M
ở đầu
Tháng 10 năm 2013, Nguyễn Phạm Bằng và các cán bộ của Bảo tàng Bắc Ninh đã phát hiện một tấm bia cổ tại Miếu Đào Hoàng (nay là Nghè thôn Thanh Hoài, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Dưới đây xin được gọi là “Bia Miếu Đào Hoàng”
陶璜
.
Bia Miếu Đào Hoàng gồm ba phần: đầu bia (bi thủ
碑首
), thân bia (bi thân
碑身
) và đế bia (bi tọa
碑座
). Phần đầu bia hình tam giác (trong phân loại bia đá của Trung Quốc gọi là hình “khuê thủ” do giống hình miếng ngọc khuê), cao khoảng 37,5cm, không có hoa văn. Trán bia có tiêu đề "Tấn cố trì tiết quán quân tướng quân Giao Châu mục Đào liệt hầu bi". Phần thân bia cao 157cm, rộng 95cm, dày 14,7cm, có minh văn ở cả hai mặt. Phần đế bia dài 136cm, rộng khoảng 100cm, cao 30cm (
Ảnh 1
).
Bài minh ở mặt trước, theo khảo sát của Nguyễn Phạm Bằng có niên đại năm Kiến Hưng
建興
thứ hai, nhiều khả năng là năm 314. Tuy nhiên, nhiều chữ trong bài minh mặt trước đã bị mờ nên không có nhiều thông tin. Bài minh ở mặt sau có ghi niên đại năm Nguyên Gia thứ 27 (450) thời Lưu Tống (Tống Nam Triều).
Liên quan đến tấm bia này, Nguyễn Phạm Bằng và một số học giả khác đã có những khảo cứu hết sức quan trọng về niên đại và nội dung
1
.Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi xin được bổ sung một số ý kiến góp phần nhận thức sâu hơn về nội dung minh văn ở mặt sau, hình thức cũng như giá trị của tấm bia này.
1. Nhận thức về cách ghi niên đại trong minh văn mặt sau
Trong phần minh văn ở mặt sau bia, chúng ta có thể đọc được hai niên đại. Niên đại thứ nhất là "Nguyên Gia chấp thất niên thập nguyệt thập nhất nhật"
元嘉廿七年十月十一日
. Niên đại thứ hai là "Tống Nguyên Gia chấp thất niên, thái tuế Canh Dần thập nhị nguyệt Bính Thìn sóc chấp ngũ nhật Canh Thìn"
宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰朔廿五日庚辰
.
1.1. Về niên đại ngày 25 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27
Xung quanh niên đại thứ hai, một số học giả đề xuất cách dịch như sau:
Nguyên Gia năm thứ 27, sao Thái Tuế đóng tại Canh Dần, trước ngày 25 (ngày Canh Thìn) tháng 12 (tháng Bính Thìn).
Trong cách dịch này, chữ "sóc" được dịch là "trước", can chi "Bính Thìn" được ghép với tháng 12.
Tuy nhiên, chữ "sóc" trong trường hợp này phải hiểu là ngày mùng một. Can chi "Bính Thìn" cần được ghép với chữ "sóc". "Bính Thìn sóc" tức là "ngày mùng một của tháng 12 là ngày Bính Thìn".
Đây là cách ghi ngày tháng khá phổ biến trong các tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là tư liệu chính sử. Cách ghi này thường có cấu trúc "X niên, Y nguyệt, [Can chi A] sóc, [Can chi B] nhật". Việc ghi thêm can chi của ngày sóc (Can chi A) nhằm giúp người đọc có thể tính toán ngày Can chi B là ngày thứ bao nhiêu trong tháng.
Có thể kiểm chứng cách đọc trên qua Bảng tính can chi (
Bảng 1
) và lịch thời bấy giờ. Theo
Bảng 1
, chúng ta thấy ngày Bính Thìn ở ô số 53. Nếu lấy đó là ngày mùng 1 thì 24 ngày sau, tức ngày 25 đúng là ngày Canh Thìn (ô số 17) - hoàn toàn trùng hợp với ghi chép trong văn bia. Ngoài ra, theo cơ sở dữ liệu lịch của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Đài Loan)
2
, trong lịch Nguyên Gia thời Lưu Tống, ngày mùng 1 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27 đúng là ngày Bính Thìn.
Như vậy, đoạn ghi chép ngày tháng này cần được dịch chính xác thành:
Năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày
Canh Thìn, ...
Bảng 1
:
Bảng tính Can Chi
|
1 (Giáp Tý)
甲子
|
2 (Ất Sửu)
乙丑
|
3 (Bính Dần)
丙寅
|
4 (Đinh Mão)
丁卯
|
5 (Mậu Thìn)
戊辰
|
6 (Kỷ Tị)
己巳
|
|
7 (Canh Ngọ)
庚午
|
8 (Tân Mùi)
辛未
|
9 (Nhâm Thân)
壬申
|
10 (Quí Dậu)
癸酉
|
11 (Giáp Tuất)
甲戌
|
12 (Ất Hợi)
乙亥
|
|
13 (Bính Tý)
丙子
|
14 (Đinh Sửu)
丁丑
|
15 (Mậu Dần)
戊寅
|
16 (Kỷ Mão)
己卯
|
17 (Canh Thìn)
庚辰
|
18 (Tân Tị)
辛巳
|
|
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
|
20 (Quí Mùi)
癸未
|
21 (Giáp Thân)
甲申
|
22 (Ất Dậu)
乙酉
|
23 (Bính Tuất)
丙戌
|
24 (Đinh Hợi)
丁亥
|
|
25 (Mậu Tý)
戊子
|
26 (Kỷ Sửu)
己丑
|
27 (Canh Dần)
庚寅
|
28 (Tân Mão)
辛卯
|
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
|
30 (Quí Tị)
癸巳
|
|
31 (Giáp Ngọ)
甲午
|
32 (Ất Mùi)
乙未
|
33 (Bính Thân)
丙申
|
34 (Đinh Dậu)
丁酉
|
35 (Mậu Tuất)
戊戌
|
36 (Kỷ Hợi)
己亥
|
|
37 (Canh Tý)
庚子
|
38 (Tân Sửu)
辛丑
|
39 (Nhâm Dần)
壬寅
|
40 (Quí Mão)
癸卯
|
41 (Giáp Thìn)
甲辰
|
42 (Ất Tị)
乙巳
|
|
43 (Bính Ngọ)
丙午
|
44 (Đinh Mùi)
丁未
|
45 (Mậu Thân)
戊申
|
46 (Kỷ Dậu)
己酉
|
47 (Canh Tuất)
庚戌
|
48 (Tân Hợi)
辛亥
|
|
49 (Nhâm Tý)
壬子
|
50 (Quí Sửu)
癸丑
|
51 (Giáp Dần)
甲寅
|
52 (Ất Mão)
乙卯
|
53 (Bính Thìn)
丙辰
|
54 (Đinh Tị)
丁巳
|
|
55 (Mậu Ngọ)
戊午
|
56 (Kỷ Mùi)
己未
|
57 (Canh Thân)
庚申
|
58 (Tân Dậu)
辛酉
|
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
|
60 (Kỷ Hợi)
癸亥
|
1.2. Về niên đại ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia 27
Liên quan đến dòng niên đại thứ nhất, một số học giả đưa ra cách dịch như sau:
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
Vào ngày 11 tháng 10 niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 27), sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia (?)
Tuy nhiên, đoạn "tỉnh sự vương pháp linh tuyên" được dịch là "sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia" dường như có phần hơi khiên cưỡng. Bản thân các tác giả cũng đặt dấu chấm hỏi cho đoạn này.
Quan sát văn bia, chúng ta thấy rằng: đoạn văn trên không được viết nối với dòng trước mà được viết thành một dòng riêng, căn vào lề dưới của bia. Điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng đây là một dòng niên đại chú thích cho đoạn văn phía trước?
Đoạn văn phía trước là phần đầu của minh văn, mở đầu bằng chữ "giáo". Chữ "giáo" này chắc chắn là chữ mở đầu của bài minh, phân lập với nội dung "cố Tướng quân Giao Châu mục liệt hầu Đào Hoàng" sau đó.
Chúng tôi muốn lưu ý rằng từ thời Hán đến thời Tấn, "giáo" là một hình thức mệnh lệnh, tương tự như "sắc"
敕
hay "phù"
符
của tầng lớp vương hầu. Sách
Văn tâm điêu long
được biên soạn vào cuối thế kỷ V cho biết "giáo tức là hiệu. Nói ra mà dân theo. Ban bố ngũ giáo. Vì vậy, vương hầu xưng giáo"
3
. Sách
Tư trị thông giám
(Q.53) phần Hán kỷ cũng chú thích "mệnh lệnh của quận thú đưa ra gọi là giáo"
4
. Trong các sách
Tấn thư
hay
Bắc sử
cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Thứ sử các châu ban bố mệnh lệnh, gọi là "hạ giáo viết"
下教曰
5
.
Như vậy, có thể suy đoán phần đầu bài minh có kết cấu như bên dưới, trong đó chữ "giáo" mở đầu cho mệnh lệnh, chữ "tuyên" là tuyên đọc văn bản mệnh lệnh đó:
教
...........................................................
................................................................
................................................................
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
"Tỉnh sự" (trong trường hợp này cần đọc là "Sảnh sự") vốn là tên một chức quan thuộc cấp của Thứ sử.
Tấn thư
cho biết vào thời Tấn, dưới Thứ sử có đặt các chức "Công tào", “Sảnh sự"
6
. Nếu hiểu "Sảnh sự" là một chức quan, cần xem "Vương Pháp Linh" là một tên riêng.
Trên cơ sở những suy luận nói trên, chúng tôi đề xuất cách dịch đoạn văn bản này như sau:
Lệnh (giáo) rằng ....
(trích dẫn nội dung mệnh lệnh - giáo)
Ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 27, Sảnh sự là Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Vấn đề tiếp theo là Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh của ai? Nói cách khác, ai là người ban "giáo" (mệnh lệnh)? Điều này sẽ được giải đáp khi chúng ta tìm hiểu nửa sau của bài minh.
2. Lan Lăng Tiêu sứ quân - Tiêu Cảnh Hiến và Tây tào thư tá Đào Trân Chi
2.1. Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân là ai?
Các nghiên cứu trước đây chưa làm rõ được "Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân" là ai. Chúng tôi cho rằng nhân vật này chính là Tiêu Cảnh Hiến
蕭景憲
- người giữ chức Thứ sử Giao Châu vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27.
Trong các sách
Đại Việt sử lược
,
Đại Việt sử ký toàn thư
hay
An Nam chí lược
không thấy nhắc đến Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Tuy nhiên,
Tống thư
(truyện Lâm Ấp quốc, truyện Tông Xác) cho biết năm Nguyên Gia thứ 22 (443), khi Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Tiêu Cảnh Hiến khi đó là "Phủ Tư mã" được Đàn Hòa Chi phong làm phó tướng của Tông Xác. Tiêu Cảnh Hiến lãnh ấn tiên phong, tiến đánh thành Khu Túc. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại
范陽邁
sai đại soái Phạm Phù Long
范扶龍
giữ thành Khu Túc, ngoài ra còn cử quân tiếp viện theo hai đường thủy bộ đến tiếp ứng. Tiêu Cảnh Hiến đã phá "ngoại cứu" - tức quân cứu viện, tập trung quân tinh nhuệ đánh thành. Đến tháng 5, Tiêu Cảnh Hiến phá được thành, chém được Phạm Phù Long. Nhờ đó, quân Tống phá được Lâm Ấp, khiến vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại phải bỏ trốn, cướp được rất nhiều vàng bạc, châu báu
7
.
Nhờ chiến công này, Tiêu Cảnh Hiến đã được vua Tống ban chiếu phong làm "Trì tiết, đốc Giao Châu, Quảng Châu chi Uất Lâm - Ninh Phố nhị quận chư quân sự, Kiến Uy Tướng quân, Giao Châu Thứ sử"
8
. Theo
Tống thư
phần Bản kỷ, Tiêu Cảnh Hiến được phong làm Giao Châu Thứ sử vào tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 23 (445)
9
. Việc phong chức này cũng nhằm rút Đàn Hòa Chi về nước để dẹp loạn ở Dự Chương. Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử đến tháng 5 năm Hiếu Kiến 2 (455) thì được thay bằng Hoàn Hành
10
. Tuy nhiên, đến tháng 12 cùng năm, Tiêu Cảnh Hiến được phong lại làm Giao Châu Thứ sử và tiếp tục giữ chức này đến tháng 8 năm Hiếu Kiến 3 (456)
11
.
Như vậy, thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27 (450) ghi chép trên bia nằm trong khoảng thời gian Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử lần thứ nhất (434-455). Tước "Kiến Uy Tướng quân" trên văn bia cũng trùng khớp với tước "Kiến Uy Tướng quân" của Tiêu Cảnh Hiến chép trong
Tống thư
.
Chữ "Lan Lăng Tiêu" trong văn bia cũng phù hợp với Tiêu Cảnh Hiến. Lan Lăng Tiêu là tên gọi dòng họ Tiêu ở Lan Lăng (Giang Tô). Dòng họ Tiêu di cư đến đất Lan Lăng vào loạn Vĩnh Gia (đầu thế kỷ IV), sau đó phát triển thành một sĩ tộc có thế lực suốt từ thời Nam Bắc triều đến thời Đường. Vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 22, Tiêu Tư Thoại
蕭思話
là một danh tướng thuộc dòng họ Lan Lăng Tiêu đang rất được trọng dụng trong triều. Năm Nguyên Gia thứ 30, Tiêu Tư Thoại thậm chí đã leo lên chức Thượng thư Tả bộc xạ. Do đó, việc Tiêu Cảnh Hiến được cất nhắc làm Giao Châu Thứ sử, ngoài chiến công ở Lâm Ấp, có thể một phần cũng nhờ sự nâng đỡ của Tiêu Tư Thoại. Thời điểm Tiêu Tư Thoại chết - năm Hiếu Kiến thứ 2
12
, cũng chính là thời điểm Tiêu Cảnh Hiến bị rút chức Giao Châu Thứ sử để thay bằng Hoàn Hoành.
Trên cơ sở xác định được nhân vật "Lan Lăng Tiêu sứ quân" là Tiêu Cảnh Hiến, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về bài minh. Đoạn này có cấu trúc như sau:
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰
朔
廿五日庚辰建威
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
教如上
Về mạch văn, mặc dù "minh giáo như thượng" là một câu, nhưng đến chữ "minh" lại được ngắt dòng, chữ "giáo" được chuyển sang đầu dòng sau. Tiêu Cảnh Hiến vào thời điểm này là Giao Châu Thứ sử, có đủ tư cách để đưa ra mệnh lệnh - "giáo". Việc ngắt dòng trước chữ "giáo" là để thể hiện ý kính
trọng đối với Tiêu Cảnh Hiến. Do đó "Minh giáo như thượng" phải được dịch là "mệnh lệnh như trên", "như trên" ở đây chính là chỉ mệnh lệnh - giáo mà Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc ở phần đầu của minh văn.
2.2. Về nhân vật Đào Trân Chi
Trong các khảo sát trước đây, một số học giả đọc tên Tây tào thư tá là "Đào Chân". Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhiều khả năng tên của viên quan này là "Đào Trân Chi".
Hiện nay, chưa xác định được một tư liệu nào khác liên quan đến nhân vật "Đào Chân" hay "Đào Trân Chi". Tuy nhiên, nội dung minh văn cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích.
Thứ nhất, chức vụ của Đào Trân Chi là "Tây tào thư tá". Vào thời Lưu Tống, "Tây tào thư tá" là một chức quan cấp dưới của Thứ sử, vốn bắt nguồn từ chức quan "Công tào thư tá" vốn có từ thời Hán. Như vậy, có thể suy đoán Đào Trân Chi là Tây tào thư tá - thuộc cấp của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến
.
Một điểm cần đáng lưu ý nữa là Đào Trân Chi cũng có họ Đào như Đào Hoàng. Mối liên hệ giữa Đào Trân Chi và Đào Hoàng cũng được đề cập trong minh văn. Trong bài minh có câu "Trân Chi bản chi mạt diệp". Trong
Thi thư
(Đại nhã, Văn Vương) hay
Tả thị
(Trang) có cụm từ "bản chi bách thế", trong đó "bản chi" (
本枝
hoặc
本支
) chỉ một dòng họ (bao gồm cả chi chính và chi phụ)
13
. Như vậy, câu "Trân Chi bản chi mạt diệp" có thể hiểu là "(Đào) Trân Chi là con cháu đời cuối (mạt diệp) của dòng họ (Đào)". Đây là lý do Đào Trân Chi tham gia vào việc tu sửa miếu Đào Hoàng.
3. Minh văn và ý nghĩa
3.1. Minh văn
Dựa trên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phạm Bằng và các học giả đi trước, kết hợp với việc quan sát văn bia và thác bản, chúng tôi xin được bổ sung, đính chính một số chữ (in đậm) và tái lập nội dung minh văn như sau:
Nguyên văn chữ Hán
1 -
教故将軍交州牧烈侯陶璜
□□□
粹稟德淵
□□□□□□
2 -
愛在民每覽其銘
記
意實嘉焉
□□
廟堂彫毀示有基陛既
□
3 -
祀所建
寧
可頓
□
宜加修
繕
務
存
褒
□
使准先舊式時就營緝
4 -
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
5 -
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰
朔
廿五日庚辰建威
6 -
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
7 -
教如上西曹書
佐
陶珎之監履修復庶神
□
有
憑珎之本枝末
8 -
葉
□
戶
□
搆誠感聿修斯記垂遠矣
Trên cơ sở kết quả khảo sát ở phần trên, chúng tôi xin được đưa ra bản dịch như sau:
(Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến) dạy (giáo) rằng: Cố Tướng quân Giao Châu mục, liệt hầu Đào Hoàng... thuần nhất, nguồn đức... , (để) ơn trong dân. Mỗi lần xem bia, ý thực tốt đẹp... Miếu đường hủy hoại, chỉ thấy nền bậc. Đã dựng cúng tế, thà rằng... Phải cho tu sửa, việc để... Lệnh theo phép cũ, thời nên dựng lại.
Năm Nguyên Gia thứ 27, tháng 10, ngày 11. Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Ấy là năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế ở Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân (Tiêu Cảnh Hiến) biết đức đã lâu, muốn khuyên mầm đức, dạy rõ như trên. Tây tào thư tá Đào Trân Chi giám sát tu sửa. Các thần chứng giám. Trân Chi là đời cuối trong họ,..., lòng thành tu sửa, bài ký để lại.
3.2. Ý nghĩa
Có thể tóm lược ý nghĩa của văn bia như sau:
Ngày 10 tháng 11 năm Nguyên Gia thứ 27 (450), quan Sảnh sự của Giao Châu là Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh (giáo) của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Theo đó, Tiêu Cảnh Hiến ca ngợi công lao của cố Tướng quân Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng. Mỗi lần đọc bài minh ký (ở mặt trước bia), Tiêu Cảnh Hiến đều lấy làm cảm kích. Tuy nhiên, miếu đường của Đào Hoàng đã bị hư hại, chỉ còn nền bậc. Tiêu Cảnh Hiến lệnh cho dựng lại theo phép cũ, để tuyên dương công trạng của Đào Hoàng.
Đến ngày 25 (Canh Thìn) tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27, Tây tào thư tá Đào Trân Chi -
thuộc cấp của Tiêu Cảnh Hiến trên cơ sở mệnh lệnh của họ Tiêu giám sát việc tu sửa. Trước sự chứng giám của các thần, Đào Trân Chi vốn là người trong họ Đào Hoàng, cho làm bài ký để lưu lại cho đời sau
.
|
|
|
|
|
Ảnh 2
.
Một số bia có đầu hình khuê thủ và đục lỗ
(theo Dương Lỗi)
|
Ảnh 3
.
Bia Mã Minh tự Căn pháp sư
có đầu hình khuê thủ và không đục lỗ
|
4. Về hình thức bia
Như đã trình bày ở phần Mở đầu, đầu bia Miếu Đào Hoàng có hình tam giác, theo phân loại bia của Trung Quốc là hình “khuê thủ”
圭首
(do giống đầu miếng ngọc khuê). Đây là một dạng đầu bia hết sức hiếm gặp tại Nhật Bản thời cổ đại và Việt Nam. Trong các bia thời cổ đại được biết đến ở Nhật Bản, không có bất cứ một bia nào có đầu bia hình “khuê thủ” (
Bảng 2
). Tuy nhiên, loại đầu bia hình “khuê thủ” lại rất phổ biến tại Trung Quốc dưới thời Ngụy - Tấn, đặc biệt trong loại hình bia công đức. Theo phân loại của Dương Lỗi
14
, nếu dựa vào hình thức đầu bia, có thể chia các bia thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc triều thành 3 nhóm: “viên thủ” (đầu bia hình tròn), “khuê thủ”, “phương thủ” (đầu bia hình chữ nhật). Nhóm “viên thủ” lại có thể chia thành 4 loại nhỏ: “tố diện”
素面
(bề mặt thô), “vựng văn”
暈紋
(hoa văn hình quầng sáng), “bàn li”
蟠螭
(điêu khắc hình con li cuộn khúc)
15
, “bàn long”
蟠龍
(điêu khắc hình rồng cuộn khúc). Theo thống kê cũng của Dương Lỗi năm 2011, trong 5 tấm bia công đức thời Ngụy - Tấn hiện còn ở Trung Quốc, có đến 4 tấm bia có đầu bia hình “khuê thủ”. Nếu bổ sung bia Tập An Cao Cú Ly mới phát hiện năm 2013 tại Tập An (Cát Lâm) và bia Miếu Đào Hoàng của Việt Nam, tổng số bia thời Ngụy - Tấn hiện còn lưu giữ được tại Trung Quốc và Việt Nam là 11 tấm, trong đó số bia có đầu bia hình “khuê thủ” chiếm đến 9 tấm (81,8%) (
Bảng 3
).
Bảng 2:
Thống kê bia Nhật Bản thời cổ đại
(Lập trên cơ sở chỉnh sửa thống kê của Hamada Koji [1996]
16
)
|
TT
|
Tên bia
|
Niên đại
|
Hình thức
|
Kích thước
(
m
)
|
Chất liệu
|
Tính chất
|
|
1
|
道後
温泉
碑
Bia suối nước nóng Dogo
|
596
|
x
|
x
|
x
|
Bia thơ văn
|
|
2
|
宇治橋碑
Bia cầu Uji
|
646
?
|
Hình đá tự nhiên
|
(Kích thước còn lại)
0,5
x
0,4
x
0,21
|
Sa thạch
|
Bia công đức
|
|
3
|
藤原鎌足墓碑
Bia mộ Fujiwara Kamatari
|
669〜673
|
x
|
x
|
x
|
Bia mộ
|
|
4
|
山ノ上碑
Bia Yamanoue
|
681
|
Hình đá tự nhiên
|
1,12
x
0,5
x
0,52
|
Đá andesit
|
Bia mộ
|
|
5
|
采女氏塋域碑
Bia đất mộ Unemeshi
|
689
|
x
|
0,53
x
0,21
|
x
|
Bia mộ
|
|
6
|
那須国造碑
Bia quốc tạo Nasu
|
700
|
Thạch trụ (có nắp 蓋)
|
1,47
x
0,48
x
0,39
|
Đá hoa cương
|
Bia mộ
|
|
7
|
多胡碑
Bia Tago
|
711
|
Thạch trụ (có nắp 蓋)
|
1,3
x
0,6
x
0,6
|
Sa thạch
|
Bia kỷ sự (lập quận)
|
|
8
|
元明天皇陵碑
Bia Thiên hoàng Gemmei
|
721
|
Thạch trụ (có nắp 蓋)
|
0,91
x
0,61
x
0,3
|
Sa thạch
|
Bia mộ
|
|
9
|
阿波国造碑
Bia quốc tạo tỉnh Awa
|
723
|
Thạch trụ (có nắp 蓋)
|
0,27
x
0,13
x
0,1
|
Đất
|
Bia mộ
|
|
10
|
金井沢碑
Bia Kanaizawa
|
726
|
Hình đá tự nhiên
|
1,08
x
0,7
x
0,65
|
Đá andesit
|
Bia mộ
|
|
11
|
大仏殿碑
Bia Đại Phật điện
|
725
~
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (tạo tự)
|
|
12
|
仏足石歌碑
Bia Phật túc thạch ca
|
753
~
|
Bia dạng phiến
|
1,93
x
0,48
x
0,02
|
Đá phiến lớp
|
Bia thơ văn
|
|
13
|
多賀城碑
Bia thành Taga
|
762
|
Hình đá tự nhiên
|
1,96
x
0,92
x
0,7
|
Sa thạch
|
Bia kỷ sự (tu tạo thành)
|
|
14
|
南天竺波羅門僧正碑
Bia Nam Thiên Trúc Bà La môn Tăng Chính
|
770
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (bia tháp)
|
|
15
|
大安寺碑
Bia Đại An tự
|
775
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (tạo tự)
|
|
16
|
浄水寺延暦九年銘碑
Bia năm Diên Lịch thứ 9 chùa Kiyomizu
|
790
|
Thạch trụ (không có nắp 蓋)
|
1,3
x
0,5
x
0,6
|
Đá tuff
|
Bia kỷ sự
|
|
17
|
唐青龍寺惠果和尚碑
Bia Đường Thanh Long tự Huệ Quả hòa thượng
|
805
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (bia tháp)
|
|
18
|
沙門勝道歴山水瑩
Bia Sa môn Thắng Đạo lịch sơn xuyên oánh
|
814
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (tạo tự)
|
|
19
|
益田池碑
Bia ao Masuda
|
825
|
x
|
x
|
x
|
Bia kỷ sự (tạo ao)
|
|
20
|
浄水寺天長三年銘碑
Bia năm Thiên Trường thứ 3 chùa Kiyomizu
|
826
|
Thạch trụ (không có nắp 蓋)
|
1,1
x
0,39
x
0,37
|
Đá tuff
|
Bia kỷ sự
|
Bảng 3:
Thống kê hình thức và công dụng bia thời Ngụy - Tấn hiện còn tại Trung Quốc và Việt Nam
(Lập trên cơ sở chỉnh sửa, bổ sung thống kê của Dương Lỗi [2011])
|
Đầu bia
Tính chất
|
Viên thủ
圓首
|
Khuê thủ
圭首
|
Phương thủ
方首
|
|
Tố diện
素面
|
Vựng văn
暈紋
|
B
àn li
蟠螭
|
B
àn long
蟠龍
|
|
Bia mộ
墓碑
|
Thoán Bảo Tử bi
爨宝子碑
|
|
|
|
Tôn phu nhân bi
孫夫人碑
,
Cát Tộ bi
葛祚碑
|
|
|
Bia công đức
功徳碑
|
|
|
Tích Ung bi
辟雍碑
|
|
Đặng Thái úy từ bi
鄧太尉祠碑
, Quảng Võ tướng quân… Sản bi
広武將軍□産碑
, Thượng tôn hiệu tấu bi
上尊号奏碑
, Thụ thiện bi
受禪碑
, Đào Hoàng miếu bi
陶璜廟碑
, Tập An Cao Cú Ly bi
集安高句麗碑
|
|
|
Bia kỷ sự
紀事碑
|
|
|
|
|
Khổng Tiện bi
孔羨碑
|
|
|
Bia khắc kinh
刻経碑
|
|
|
|
|
|
|
Ngoài ra, nếu so sánh với các bia cùng thời, bia Miếu Đào Hoàng còn có một đặc điểm nổi bật là đầu bia hình “khuê thủ” nhưng lại không đục lỗ. Nếu xem xét 25 bia đá có đầu bia hình “khuê thủ” thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc triều hiện còn tại Trung Quốc và Việt Nam (
Bảng 4
), hầu hết đều có đục một lỗ tròn ở giữa (
Ảnh 2
). Ngoài bia Đào Hoàng, chỉ có 3 bia khác không có đục lỗ ở phần đầu “khuê thủ” là Bùi Sầm kỷ công bi (Tân Cương, năm Vĩnh Hòa thứ 2 - 137), Tập An Cao Cú Ly bi (Cát Lâm, 388 hoặc 418), Mã Minh tự Căn pháp sư (Sơn Đông, năm Chính Quang thứ 4 - 523).
Bảng 4
:
Thống kê văn bia có đầu bia hình “khuê thủ” thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc triều
hiện còn tại Trung Quốc và Việt Nam
(Lập trên cơ sở chỉnh sửa, bổ sung thống kê của Dương Lỗi [2011])
|
TT
|
Tên gọi
|
Niên đại
|
Cao
|
Rộng
|
Đ/k lỗ
|
Chủng loại
|
Vị trí nguyên gốc
|
Vị trí hiện tại
|
|
|
Thời Lưỡng Hán
両漢
|
|
1
|
Bùi Sầm kỷ công bi
裴岑紀功碑
|
Vĩnh Hòa 2
永和二年
(
137
)
|
129
|
54
|
Không có
無
|
Công đức
功徳
|
Huyện tự trị Barköl Kazakh, Tân Cương
新疆巴里坤哈薩克自治縣
|
Bảo tàng Tân Cương
新疆博物館
|
|
2
|
Bắc Hải Tướng Cảnh quân minh
北海相景君銘
|
Hán Hòa 2
漢和二年
(
143
)
|
220
|
79
|
14
|
Bia mộ
墓碑
|
Nhậm thành Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧任城
|
Bảo tàng Tế Ninh
済寧博物館
|
|
3
|
Đôn Hoàng trưởng sử Vũ Ban bi
敦煌長史武斑碑
|
Kiến Hòa 1
建和元年
(147)
|
210
|
88
|
14
|
Bia mộ
墓碑
|
Gia Tường, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧嘉祥
|
Đền Võ thị, Gia Tường, Sơn Đông
山東嘉祥武氏祠
|
|
4
|
Lý Mạnh Sơ thần từ bi
李孟初神祠碑
|
Vĩnh Hưng
2
永興二年
(
154
)
|
175
|
73
|
14
|
Công đức
功徳
|
Nam Dương, Hà Nam
河南南陽
|
Đình Hán Bi, Ngọa Long Cương, Nam Dương, Hà Nam
河南南陽市卧龍崗漢碑亭
|
|
5
|
Trịnh Cố bi
鄭固碑
|
Duyên Hi 1
延熹元年
(158)
|
196
|
60
|
14
|
Bia mộ
墓碑
|
Khúc Phụ, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧曲阜
|
Bảo tàng Tế Ninh
山東済寧博物館
|
|
6
|
Phí Đế hầu Tào Đằng bi
費帝侯曹騰碑
|
Duyên Hi
3
延熹三年
(160)
|
198
|
81
|
11
|
Bia mộ
墓碑
|
Bạc Châu, An Huy
安徽亳州
|
Không rõ
不明
|
|
7
|
Hành sự Độ quân bi
行事渡君碑
|
Duyên Hi 4
延熹四年
(161)
|
250
|
91
|
11
|
Bia mộ
墓碑
|
Cự Dã, Sơn Đông
山東巨野
|
Sở bảo quản văn vật huyện Cự Dã, Sơn Đông
山東巨野県文物保管所
|
|
8
|
Thương Hiệt miếu bi
蒼頡廟碑
|
Duyên Hi 5
延熹五年
(162)
|
147
|
79
|
13
|
Bia mộ
墓碑
|
Tây An, Thiểm Tây
陝西西安
|
Bảo tàng Bi Lâm Tây An
西安碑林博物館
|
|
9
|
Tiên Vu Hoàng bi
鮮于璜碑
|
Duyên Hi 8
延熹八年
(165)
|
242
|
81
〜
83
|
11.3
|
Công đức
功徳碑
|
Võ Thanh, Thiên Tân
天津武清
|
Bảo tàng Thiên Tân
天津博物館
|
|
10
|
Chấp Kim ngô thừa Võ Vinh bi
執金吾丞武榮碑
|
Kiến Ninh
建寧年間
(
168-171
)
|
243
|
84
|
12
|
Bia mộ
墓碑
|
Gia Tường, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧嘉祥
|
Bảo tàng Tế Ninh
済寧博物館
|
|
11
|
Quách Hữu Đạo bi (Quách Thái bi)
郭有道碑(郭泰碑
)
|
Kiến Ninh 2
建寧二年
(
169
)
|
160
|
80
|
11
|
Bia mộ
墓碑
|
Giới Lâm, Sơn Tây
山西介林
|
Bảo tàng Tế Ninh
済寧博物館
|
|
12
|
Ty lệ giáo úy Lỗ Tuấn bi
司隷校尉魯峻碑
|
Hi Bình 2
熹平二年
(173)
|
283
|
115
|
15
|
Bia mộ
墓碑
|
Kim Hương, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧金郷
|
Bảo tàng Tế Ninh
済寧博物館
|
|
13
|
Hiệu quan bi
校官碑
|
Quang Hòa 4
光和四年
(181)
|
148
|
76
|
11
|
Bia mộ
墓碑
|
Nam Kinh, Giang Tô
江蘇南京
|
Bảo tàng Nam Kinh
南京博物館
|
|
14
|
Võ thị mộ quần vô tự bi
武氏墓群
無
字碑
|
Đông Hán
東漢
|
210
|
170
|
15
|
Bia mộ
墓碑
|
Gia Tường, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧嘉祥
|
Đền Võ thị, Gia Tường, Sơn Đông
山東嘉祥 武氏祠
|
|
|
Thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc triều
魏晋南北朝
|
|
15
|
Khổng Tiện bi
孔羨碑
|
Hoàng Sơ 1
黄初元年
(
220
)
|
230
|
93
|
14
|
Bia kỷ sự
紀事碑
|
Khúc Phụ, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧曲阜
|
Khúc Phụ Khổng miếu
曲阜孔廟
|
|
16
|
Thụ thiện bi
受禪碑
|
Hoàng Sơ 1
黄初元年
(
220
)
|
322
|
102
|
13
|
Công đức
功徳碑
|
Tháp Hà, Hà Nam
河南漯河
|
Trấn Phồn Thành, Lâm Dĩnh, Hà Nam
河南臨潁繁城鎮
|
|
17
|
Thượng tôn hiệu tấu bi
上尊号奏碑
|
Hoàng Sơ 1
(
220
) trở về sau
黄初元年
(220)
以後
|
322
|
102
|
13
|
Công đức
功徳碑
|
Tháp Hà, Hà Nam
河南漯河
|
Trấn Phồn Thành, Lâm Dĩnh, Hà Nam
河南臨潁繁城鎮
|
|
18
|
Cát Tộ bi
葛祚碑
|
呉
|
117
残
|
74
|
Không rõ
不明
|
Bia mộ
墓碑
|
Cú Dung, Giang Tô
江蘇句容
|
Bảo tàng Nam Kinh
南京博物館
|
|
19
|
Nhậm Thành thái thú Tôn phu nhân bi
任城太守孫夫人碑
|
Thái Sơ 8
泰始八年
(272)
|
255,5
|
96
|
12
|
Bia mộ
墓碑
|
Tân Thái, Sơn Đông
山東新泰
|
Đại miếu, Thái An, Sơn Đông
山東泰安岱廟
|
|
20
|
Đào Hoàng miếu bi
陶璜廟碑
|
Kiến Hưng 2 (314)?
建興二年(314)
?
|
157
|
95
|
Không có
無
|
Công đức
功徳碑
|
Thuận Thành, Bắc Ninh (Việt Nam)
[越]北寧順成
|
Miếu Đào Hoàng, Thuận Thành, Bắc Ninh (Việt Nam)
[越]北寧順成陶璜廟
|
|
21
|
Đặng Thái úy từ bi
鄧太尉祠碑
|
Kiến Nguyên 3
建元三年
(367)
|
170
|
64
|
11
|
Công đức
功徳碑
|
Tây An, Thiểm Tây
陝西西安
|
Bảo tàng Bi Lâm Tây An
西安碑林博物館
|
|
22
|
Quảng Võ tướng quân … Sản bi
広武將軍□産碑
|
Kiến Nguyên 4
建元四年
(368)
|
174
|
73
|
Không rõ
不明
|
Công đức
功徳碑
|
Tây An, Thiểm Tây
陝西西安
|
Bảo tàng Bi Lâm Tây An
西安碑林博物館
|
|
23
|
Tập An Cao Cú Ly bi
集安高句麗碑
|
388 hoặc 418
|
173
残
|
60,6-66,5
|
Không có
無
|
Công đức
功徳碑
|
Tập An, Cát Lâm
吉林集安
|
Tập An, Cát Lâm
吉林集安
|
|
24
|
Mã Minh tự Căn pháp sư bi
馬鳴寺根法師碑
|
Chính Quang 4
正光四年
(523)
|
155
|
81
|
Không có
無
|
Bia mộ
墓碑
|
Quảng Nhiêu, Sơn Đông
山東廣饒
|
Bảo tàng Nghệ thuật thạch khắc Sơn Đông
山東石刻芸術博物館
|
|
25
|
Trịnh Thuật tổ phu nhân miếu bi
鄭述祖夫人廟碑
|
Triều Minh 1
朝明元年
(560)
|
205
|
93
|
12
|
Bia kỷ sự
紀事碑
|
Khúc Phụ, Tế Ninh, Sơn Đông
山東済寧曲阜
|
Khúc Phụ Khổng miếu
曲阜孔廟
|
Kết luận
Bia Miếu Đào Hoàng là một di sản văn hóa đặc biệt quan trọng. Về mặt niên đại, mặc dù cần có thêm những khảo sát kỹ lưỡng hơn về minh văn ở mặt trước, nhưng tác giả đồng ý với giả thuyết của Nguyễn Phạm Bằng về niên đại năm Kiến Hưng thứ 2 (314). Nếu giả thuyết này là chính xác, bia Miếu Đào Hoàng đã được lập sau khi Đào Hoàng qua đời được 10 năm, tại miếu Đào Hoàng, phía Đông di tích thành cổ Lũng Khê. Sau đó, đến năm Nguyên Gia thứ 27 (450), khi hậu duệ của Đào Hoàng là Đào Trân Chi cho xây dựng lại miếu theo lệnh của Giao Châu thứ sử Tiêu Cảnh Hiến, người ta đã cho khắc thêm minh văn thứ hai ở mặt sau. Như vậy, bia Miếu Đào Hoàng là tấm bia đá hiện còn có niên đại cổ nhất Việt Nam, đồng thời hai bài minh văn ở mặt trước và mặt sau bia là hai tư liệu kim thạch văn cổ nhất và cổ thứ hai hiện còn lưu giữ được tại Việt Nam.
Các minh văn trên bia Miếu Đào Hoàng là một nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quan trọng. Xét về lịch sử Việt Nam, các minh văn này cho chúng ta biết về sự tồn tại của một ngôi miếu thờ Thứ sử Đào Hoàng ở phía Đông thành cổ Lũng Khê. Đây có thể là một chỉ dấu cho thấy di tích thành cổ Lũng Khê chính là thành Long Biên do Thứ sử Đào Hoàng cho xây dựng vào cuối thế kỷ IIII.
Minh văn trên bia Miếu Đào Hoàng cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin về các nhân vật như Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến, hậu duệ của Đào Hoàng là Đào Trân Chi cũng như một số sự kiện lịch sử xảy ra tại Việt Nam từ thế kỷ IV đến thế kỷ V.
Xét trên góc độ lịch sử khu vực, bia Miếu Đào Hoàng bổ sung thêm tư liệu cho hoạt động nghiên cứu hình thức văn bia (loại hình đầu bia hình khuê thủ với đặc điểm không đục lỗ) và thư pháp thời Tấn và Nam Bắc triều.
Ngoài ra, minh văn mặt sau bia cũng là một tư liệu hết sức quan trọng để nghiên cứu về loại hình mệnh lệnh “giáo” của thứ sử. “Giáo” bên cạnh tính chất là một loại mệnh lệnh do thứ sử hay vương hầu ban cấp, còn được sử dụng như một loại yết thị để phổ biến mệnh lệnh cho dân chúng. Trước đây, nghiên cứu qua tài liệu văn bản và Hán giản của Sato Tatsuro đã chỉ ra rằng, dưới thời Hán người ta đã viết hoặc treo “giáo lệnh” lên tường công đường, hoặc khắc nội dung “giáo lệnh” lên đá để cáo thị cho dân chúng
17
. Có thể tham khảo một trường hợp sử dụng mệnh lệnh “giáo” của Thứ sử Dương Tân sống gần như cùng thời với minh văn mặt sau bia Miếu Đào Hoàng. Theo
Bắc sử
, Kì châu Thứ sử Dương Tân (469-531) khi điều tra về một vụ cướp của giết người đã “hạ giáo”, yết thị thông tin “có một người mặc áo màu như thế này, cưỡi ngựa màu thế kia, bị giết ở phía đông thành 10 dặm. Không biết họ tên. Nếu có người nhà, hãy mau chóng đến xem”. Kết quả là sau khi yết thị, có một bà lão đã đến nhận nạn nhân là con mình
18
. Như vậy, việc Đào Trân Chi cho khắc mệnh lệnh “giáo” của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến cũng có ý nghĩa tương tự, thông qua việc yết thị, đánh vào thị giác của người xem bia đá, Đào Trân Chi muốn phổ biến mệnh lệnh cũng như ghi công tu sửa miếu Đào Hoàng của Tiêu Cảnh Hiến. Ngoài ra, những thông tin như mệnh lệnh “giáo” được Sảnh sự quan tuyên đọc hay câu văn “minh giáo như thượng” là những tư liệu quí giá để các học giả nghiên cứu lịch sử Trung Quốc tìm hiểu thêm về hình thức cũng như cách thức truyền mệnh lệnh dưới thời Nam triều.
Phụ chú:
Bài viết này được hoàn thiện trên cơ sở hai tham luận “Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại Nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)” (Hội nghị Thông báo Hán Nôm 2014) và “Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam thời Tùy - Đường và tư liệu thạch khắc” (Hội thảo “Đế quốc Tùy - Đường nhìn từ khu vực xuyên Đông Á: Suy nghĩ từ tư liệu cấp một và khu vực”
環東アジア地域から見た隋唐帝国:一次史料と地域から考える
, 28/2/2015, Đại học Niigata - Nhật Bản).
Lời cảm ơn:
Trong quá trình thực hiện bài viết này, tác giả đã nhận được sự cung cấp tư liệu, hỗ trợ tận tình của anh Phạm Văn Bằng - cán bộ Bảo tàng Bắc Ninh, anh Nguyễn Hữu Sử - cán bộ Viện Nghiên cứu Tôn giáo, anh Vũ Đường Luân - cán bộ Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh cũng như những người có liên quan.
Chú thích:
(THANH HOÀI COMMUNE, THUẬN THÀNH DISTRICT, BẮC NINH PROVINCE)
PHẠM LÊ HUY
At the Đào Hoàng shrine (Thanh Hoài commune, Thuận Thành district, Bắc Ninh province today), there is an ancient stele that has been found and studied since 2013. It has been dated to Kiến Hưng 2 preriod (314). In Nguyên Gia the twenty-seventh (450), when Đào Trân Chi, the descendent of Đào Hoàng, had the shrine built, following the order of the Giao Châu Jiaozhou governor Tiêu Cảnh Hiến, who had inscribed the second epigraphical characters at its back.
From the study on these second epigraphical characters and the comparison with the historical data, the author has edited the stele content, from which he has clarified some persons, locations and historical events in Việt Nam during the fourth century to the fifth century.
The epigraphical characters on the Đào Hoàng shrine are invaluable historical source. This source suggests a possibility that the ancient Lũng Khê citadel was itself the Long Biên citadel built by the governor Đào Hoàng at the end of the third century.