Thực nghiệm kỹ thuật làm chum gốm văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam
1.Mở đầu
Kỹ thuật chế tạo đồ gốm cũng phần nào phản ánh mối quan hệ với con
người, thể hiện sự tương tác, cách ứng xử của con người trong tổng hòa mối quan
hệ với môi trường và văn hóa của xã hội đó. Trong văn hoá Sa Huỳnh, với truyền thống
táng tục mộ chum vò gốm, các chum gốm là những di vật phổ biến và điển hình
nhất trong nền văn hoá này, đặc biệt là loại chum hình trụ, hình trứng có nắp
đậy hình nón cụt. Có thể nói, đây là loại chum có kích thước lớn nhất trong các
các đồ gốm giai đoạn tiền - sơ sử ở Việt Nam. Nghiên cứu kỹ thuật làm
gốm Sa Huỳnh là một vấn đề rất quan trọng góp phần tìm hiểu về lịch sử văn hóa
của một nghề thủ công trong xã hội Sa Huỳnh nói riêng và bối cảnh kinh tế xã
hội Sa Huỳnh nói chung. Việc khôi phục lại quy trình, kỹ thuật sản xuất
là một trong những yếu tố hết sức quan trọng. Trong nhiều thập kỷ qua, đã có
một số nghiên cứu đề cập đến kỹ thuật chế tạo đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh song vẫn chưa có nghiên cứu chi
tiết về quy trình kỹ thuật sản xuất chum gốm, một số nhận định chưa được kiểm
chứng. Có thể nói, nếu sử dụng các phương pháp khảo cổ học cổ điển, thì rất khó, hoặc thậm chí không
thể xác định được cách thức các thợ gốm Sa Huỳnh đã tạo ra những chiếc chum gốm
có kích thước lớn và chắc chắn như vậy. Để trả
lời cho vấn đề này cần phải nghiên cứu các dấu vết kỹ thuật còn lại trên đồ
gốm, các phân tích khoa học tự nhiên và trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu thực
nghiệm. Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu
về kỹ thuật làm chum gốm thông qua phương pháp thực nghiệm dựa trên những dấu
vết kỹ thuật còn lại trên chum gốm và các quan sát dân tộc khảo cổ học tại làng
gốm thủ công truyền thống Bàu Trúc (Ninh Thuận).
Những nghiên cứu thực nghiệm về kỹ thuật chế tạo gốm cũng
là một cách tiếp cận được các nhà khoa học trên thế giới áp dụng từ rất sớm,
nhiều chương trình thực nghiệm đã được tiến hành, trong đó đáng chú ý là thực
nghiệm của Rye đối với nguyên liệu làm gốm (O.Rye 1981). Để tiến
hành nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học đã phải dựa rất nhiều vào các
quan sát của phương pháp khảo cổ truyền thống, các phân tích bằng phương pháp
khoa học tự nhiên và các nghiên cứu dân tộc học khảo cổ.
Ở phương Tây, rất nhiều các nghiên cứu kỹ
thuật chế tạo đồ gốm bằng phương pháp thực nghiệm đã đạt được nhiều thành tựu. Ở
Đông Á, gần đây các nhà khảo cổ học Nhật Bản đã thực nghiệm, tái tạo quy trình
sản xuất gốm Jomon. Đáng chú ý, Viện Nghiên cứu Di sản Văn hóa Naju, Hàn Quốc chế tạo
phục dựng thành công kỹ thuật chế tạo những chum gốm lớn. Những nghiên cứu của
họ trong việc khôi phục kỹ thuật sản xuất chum gốm lớn đã kế thừa và áp dụng
nhiều phương pháp đã được biết đến như nhiễu xạ tia X, thạch học lát mỏng, thực
nghiệm nung đất sét để tìm được nguồn gốc của nguyên liệu, độ nung, các đặc
tính hóa lý của đồ gốm và từ đó đã tiến hành thực nghiệm thành công việc chế tạo
chum gốm lớn.
Ở Việt Nam, một số các nghiên cứu thực nghiệm cũng được thực hiện từ khá
sớm. Đó là các thực nghiệm nghiên cứu độ thấm nước của gốm cổ của Diệp Đình Hoa
(Diệp Đình Hoa 1977); Nguyễn Kim Dung, Đoàn Đức Thành, Nguyễn Việt cũng đã từng
tiến hành thực nghiệm thành công chế tạo gốm Đa Bút và Phái Nam (Nguyễn
Kim Dung và nnk 1981); thực nghiệm cách tạo hoa văn trên gốm tiền sơ - sử ở miền Bắc của Hà
Văn Tấn và các cộng sự (Hà Văn Tấn và nnk 1970). Kỹ thuật chế
tạo đồ gốm Sa Huỳnh cũng đã được Phạm Thị Ninh quan tâm nghiên cứu, trong đó đã
đề cập đến một số kỹ thuật tạo dáng cơ bản (Phạm Thị Ninh 2003; Phạm Thị Ninh,
Nguyễn Thị Hảo 2007; Phạm Thị Ninh 2009). Theo đó, tác giả được đã đưa ra kết
luận rằng các loại hình chum mộ Sa Huỳnh được làm bằng phương pháp dải cuộn kết
hợp bàn đập hòn kê và ghép nối. Tuy nhiên, quy trình kỹ thuật cụ thể chưa làm
rõ, cũng như chưa có những kiểm chứng qua so sánh dân tộc học hoặc thực nghiệm.
Những nghiên
cứu thực nghiệm đồ gốm mới được quan tâm trở lại gần đây và các đề tài này đều
được thực hiện bởi nhóm tác giả bài viết. Đó là các nghiên cứu thực nghiệm chế
tạo đồ gốm Sa Huỳnh tại Bàu Trúc (Ninh Thuận) trong các năm 2014, 2019 và thực
nghiệm chế tạo hoa văn gốm Thạch Lạc (Hà Tĩnh) năm 2017.
Trong công trình nghiên cứu “Kỹ thuật chế tạo đồ gốm văn
hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam”chúng tôi đã xác định được quy trình chế tạo
đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh từ khâu lựa chọn và gia công nguyên liệu cho
đến kỹ thuật tạo hình, kỹ thuật tạo hoa văn, kỹ thuật nung gốm dựa trên những bằng chứng
từ phương pháp dân tộc học so sánh, thực nghiệm, phân tích khoa học tự nhiên. Về
cơ bản đã làm rõ được những kỹ thuật, quy trình chế tạo đồ gốm, nhất là đối với
các đồ gốm gia dụng có kích cỡ nhỏ. Tuy nhiên, đối với kỹ thuật tạo dáng một số
kiểu chum vẫn còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được do hạn chế tư liệu và điều
kiện nghiên cứu.
2. Phương
pháp và quá trình thực nghiệm
2.1. Phương pháp
nghiên cứu
Phương pháp chính sử
dụng trong đề tài là thực nghiệm - là một phương pháp nghiên cứu quan trọng,
cho phép gắn liền giữa giả định và thực tiễn khoa học (Nguyễn Kim Dung 1990).
Nghiên cứu thực nghiệm bao gồm các thí nghiệm có kiểm soát được sử dụng để tái
tạo quy trình sản xuất gốm thời tiền - sơ sử. Từ những nghiên cứu này, các nhà
khảo cổ có được thông tin về kỹ thuật nung, nhiệt độ nung và các thuộc tính
khác nhau của kỹ thuật chế tạo gốm. Khảo cổ học thực nghiệm là cách thức mà các
nhà nghiên cứu hiện đại tái tạo các hiện vật cổ để cố gắng tìm hiểu các vấn đề
liên quan đến việc lựa chọn nguyên liệu và dụng cụ. Cách tiếp cận này đòi hỏi
phải xây dựng điều kiện làm việc gần nhất có thể hoặc phải chú ý đến các nhiều
yếu tố khác, nếu các dụng cụ và vật liệu mới được đưa vào sử dụng. Kỹ thuật chế tạo đồ gốm là một chuỗi gồm nhiều khâu kỹ thuật, trong đó kỹ
thuật tạo dáng là một khâu quan trọng mà để nghiên cứu được những kỹ thuật này
thực nghiệm có thể giúp ích, chủ yếu dựa vào dấu vết kỹ thuật và thực tế kiểm
nghiệm, trong khi các kỹ thuật khác đòi hỏi sự kết hợp nghiên cứu từ nhiều
ngành khác nhau mới cho kết quả chính xác.
Phương pháp nghiên cứu thứ hai là dân tộc học khảo cổ.
Các nghiên cứu dân tộc khảo cổ học từ lâu đã đóng vai trò là nguồn cung cấp giả
thuyết quan trọng, dữ liệu so sánh và khuôn khổ giải thích cho các nhà khảo cổ
học quan tâm đến việc mô tả và diễn giải việc sản xuất gốm (Costin 2000). Sản xuất đồ gốm
bằng những phương pháp truyền thống hiện vẫn còn phổ biến trên thế giới và ở một
số vùng ở Việt Nam, vì vậy đây là mảnh đất “màu mỡ” cho những công trình nghiên
cứu khảo cổ dân tộc học không chỉ trên lĩnh vực kỹ thuật mà còn trên quan điểm
đánh giá kinh tế và xã hội (Colin Renfrew, Paul
Bahn 1997). Dân tộc học khảo cổ là một cách tiếp cận nhân học, dựa vào quan sát các
cách thức chế tạo gốm của người thợ thủ công hiện đại hiện vẫn sử dụng các
phương pháp chế tạo truyền thống, để có những so sánh về các dấu vết kỹ thuật
và loại suy những đặc tính của các sản phẩm gốm cổ (Carla M. Sinopoli
1991). Những quan sát này tốt nhất là được
thực hiện trực tiếp bởi các nhà khảo cổ học. Họ có những quan sát rất tỷ mỉ các
thao tác kỹ thuật, các dấu vết kỹ thuật được tạo ra và đối sánh với các tư liệu
khảo cổ học. Từ đó nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng và dùng chúng trong
phân tích tích tư liệu khảo cổ.
2.2. Cơ sở dữ liệu và một số giả định tiến hành thực nghiệm
Những nghiên cứu, quan sát, phân tích các dấu vết kỹ
thuật còn lưu lại trên các chum gốm văn hóa Sa Huỳnh, cũng như những
phân tích thạch học về thành phần nguyên liệu, độ nung, đã được
thực hiện là cơ sở chúng tôi đưa ra một số giả định để tiến hành thực
nghiệm để có thể tiệm cận gần nhất đến kỹ thuật của người
Sa Huỳnh.
Trước hết là những quan sát dấu vết kỹ thuật còn lưu lại trên chum gốm. Trên hàng loạt
các chum gốm tại Lai Nghi, Động Cườm, Cồn Ràng, đều có thể quan sát thấy những
đường hơi gồ nhẹ chạy vòng quanh thân cách đều nhau ở trong lòng một số chum (Hình
2). Tại Động Cườm, nơi phát hiện được rất nhiều chum gốm, trong số đó nhiều
chum bị vỡ, những mảnh vỡ thường bằng phẳng ngang thân chum (chỗ ghép nối giữa
các con chạch đất) là những dấu hiệu của kỹ thuật ghép con chạch.
Trên một số mảnh chum gốm Cồn Ràng, có thể nhận thấy bên dưới lớp áo gốm lộ ra
vết nứt ngang - dấu vết ghép con chạch (Hình 11).
Theo Rye (1981) những đồ gốm được tạo dáng bằng kỹ thuật dải cuộn, ghép con chạch
khi vỡ thường bị vỡ ở những chỗ ghép nối giữa hai dải đất (con chạch). Do đó,
chúng tôi giả định rằng các chum gốm Sa Huỳnh được tạo dáng bằng phương pháp
ghép nối con chạch.
Kết quả phân tích thạch học lát mỏng các mảnh gốm Sa Huỳnh
cho thấy tất cả gốm Sa Huỳnh đều là gốm thô, được pha trộn thêm với chất gầy là cát,
đá được nghiền nát, vỏ nhuyễn thể,... Các loại
chum thường được pha trộn thêm các tạp chất khoáng vật thường là thô và
rất thô, điển hình như chum Gò Quê, Gò Miếu Ông, Lai Nghi… Đối với quá trình tạo
dáng, việc pha trộn các chất gầy vào nguyên liệu làm gốm cũng liên quan đến kỹ
thuật được sử dụng để làm gốm. Bởi nếu đất sét được sử dụng để làm gốm mà chứa
nhiều tạp chất thô được tạo dáng bằng bàn xoay nó sẽ gây đau rát tay thợ gốm
(Dean E. Anorld: 29). Đây là một bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa nguyên liệu
và kỹ thuật tạo dáng trong văn hóa Sa Huỳnh. Với nguồn nguyên liệu được pha trộn
với nhiều cát thô như chum gốm Sa Huỳnh, thì việc sử dụng bàn xoay (cả nhanh và
chậm) là khó có khả năng. Vì tốc độ xoay
sẽ làm các hạt cát thô, sỏi, cào xước tay người thợ gây đau rát rất khó để làm.
Do đó, chúng tôi cũng giả định rằng các chum gốm Sa Huỳnh được đặt trên bàn kê
cố định để tạo dáng chum.
Về kỹ thuật nung, căn cứ vào nhiệt độ nung của gốm Sa Huỳnh (phân tích nhiệt
huỳnh quang cho kết quả nằm trong khoảng từ 6000C - 8000C),
màu sắc xương gốm, dấu vết không đều màu trên đồ gốm tư liệu dân tộc học và việc
chưa từng phát hiện được lò nung gốm trong các di tích văn hoá Sa Huỳnh, nên có
thể cho rằng kỹ thuật nung gốm Sa Huỳnh là nung ngoài trời.
2.3. Bối cảnh thực nghiệm
Với những giả thiết nghiên cứu như đã đề cập ở trên, sau quá trình khảo
sát, nghiên cứu quy trình sản xuất đồ gốm ở một số làng gốm thủ công truyền thống như Phù
Lãng, Thanh Hà,…, những điều kiện ở làng gốm Bàu Trúc là phù hợp để có thể
tiến hành những thực nghiệm nhằm kiểm tra lại kỹ thuật làm gốm văn hóa Sa Huỳnh,
đặc biệt là chum gốm. Những quan sát tại Bàu Trúc cho thấy, hiện
nay các thợ gốm Bàu Trúc vẫn dùng kỹ thuật ghép con chạch để tạo dáng cơ bản cho
những đồ gốm lớn, chiếc lớn nhất có thể cao đến 120cm. Qua quan sát cách làm những
đồ gốm lớn hiện nay của làng Bàu Trúc, chúng tôi nhận thấy đồ gốm có thể được
làm bằng kỹ thuật ghép con chạch từ dưới đáy lên đến miệng một cách dễ dàng. Bằng kỹ thuật này, dấu vết để lại ở
bên trong lòng một số chum gốm còn thấy những đường gồ lên cách nhau khá đều đặn,
đó là khoảng cách ghép nối của các con chạch, và vết ghép nối (Hình 10).
Đó là sự tương đồng về kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc và gốm Sa Huỳnh. Do sản xuất
gốm mang tính thủ công, nên người thợ phải có một quá trình tích lũy kinh nghiệm
để xử lý chính xác các kỹ thuật đồng thời nắm vững tính chất của các công đoạn
làm gốm mới tạo ra đươc những chiếc chum gốm có hình dáng cân đối, tròn đều
như vậy. Những kỹ thuật này các nhà khảo cổ và các thợ gốm ở các làng gốm
sử dụng các kỹ thuật bàn xoay hay khuôn hay thậm chí các thợ gốm phụ ở làng nghề
này cũng không thể thực hiện được. Do đó, những người thợ nhiều kinh
nghiệm ở Bàu Trúc cùng tham gia vào quá trình thực nghiệm tìm hiểu về cách
làm chum gốm Sa Huỳnh.
Chúng tôi đã tiến hành hai đợt thực nghiệm
làm chum gốm Sa Huỳnh tại Bàu Trúc. Trong lần thứ nhất, về cơ bản đã thực nghiệm
thành công kỹ thuật tạo dáng thân chum gốm bằng phương pháp dải
cuộn, kỹ thuật tạo hoa văn và kỹ thuật nung. Tuy nhiên, với các
loại chum đáy có độ cong lớn lại chưa có cách xử lý hợp lý nên kết
quả còn hạn chế. Trong lần thực nghiệm thứ hai, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu
các cách thức tạo chum gốm có đáy tròn với thành phần nguyên
liệu pha trộn gần với nguyên liệu của chum gốm Sa Huỳnh hơn.
Trong lần thực nghiệm thứ nhất, các mẫu chum hình trụ có
vai, đáy bằng (Hình 1.1) và chum hình trụ đáy hơi cong lồi (Hình 1.2) đã được lựa chọn để làm thực nghiệm.
Trong lần thứ hai, để nghiên cứu làm rõ thêm về cách thức tạo đáy chum đối với
những chum có độ cong lớn, hai mẫu chum khá phổ biến trong văn hóa Sa Huỳnh được
chọn để thực nghiệm. Thứ nhất là mẫu chum phổ biến trong nhiều di tích, chum
hình trụ không có vai, dáng chum thuôn dài, thân hơi thắt cong ở giữa, phần thân gần
đáy phình rộng, đáy cong lồi như chum Bình Yên, Lai Nghi, Hậu Xá, Tiên
Lãnh.... (Hình 1.4, 1.5). Vành miệng loe xiên nhẹ, một số có lỗ trên
vành miệng, phía trong vành miệng có gờ đỡ nắp khoặc không có gờ đỡ nắp, ngang
thân bên ngoài có đường chỉ chìm, từ đường chỉ chìm đến hết đáy phủ văn thừng. Đây cũng là
loại chum khó làm nhất vì phần đáy có độ cong lớn, để chum có thể đứng được đều
phải có giá đỡ. Chum có nhiều kích cỡ khác nhau: cao từ 52,2 đến 119,3cm (chủ yếu có
chiều cao trong khoảng 90 - 110cm); đường kính thân nhỏ (27 - 60cm). Mẫu chum thứ
hai là chum Cồn Ràng (Hình 1.3), hình trứng miệng loe xiên, cổ thắt, vai phình
rộng và thu dần về đáy, đáy tròn lồi. Kích thước chum: đường kính miệng 36cm, đường
kính thân 41cm, cao 62cm.
2.4. Quá
trình tiến hành thực nghiệm
2.4.1.Chuẩn bị và gia công nguyên liệu
Kết quả phân tích thành phần nguyên liệu gốm Sa Huỳnh đã
cho thấy có nguồn gốc trầm tích sét sông và trầm tích sét sông-biển, và đều được
pha trộn thêm chất gầy, tỷ lệ chất gầy trong các mẫu không đều nhau giữa các địa
điểm và các loại hình đồ gốm. Các đồ gốm dày thường được pha trộn các hạt kích
cỡ lớn, trong khi đó, các đồ gốm mỏng, nhỏ các hạt nhỏ hơn. Chum gốm thường pha
các hạt cát thô, thậm chí các hạt kích cỡ sỏi.
Nguồn nguyên liệu chính vẫn phải sử dụng nguyên liệu làm
gốm Bàu Trúc, đất sét được lấy tại được lấy từ một khu ruộng trũng gần sông
Quao, cách làng gốm Bàu Trúc hiện tại khoảng 5km. Chất gầy của thợ gốm Bàu Trúc
là cát mịn lấy ở sông Lu, một dòng sông nhỏ nằm bao quanh làng Bàu Trúc. Thành
phần nguyên liệu sét Bàu Trúc chưa được phân tích nên chưa rõ tỷ lệ cát sẵn có
trong sét Bàu Trúc như thế nào. Do đó để cân đối giữa nguyên liệu gốm Sa Huỳnh
và tỷ lệ pha trộn nguyên liệu hiện tại của gốm Bàu Trúc để có một tỷ lệ để làm
chum gốm thực nghiệm. Tuy nhiên do chất liệu của chum gốm Sa Huỳnh thô hơn nên
chúng tôi đã pha trộn thêm cả cát thô có nguồn gốc từ cát biển theo tỷ lệ nhất
định. Chúng tôi trộn nguyên liệu theo tỷ lệ 70% sét và 30% cát. Cát được trộn
theo tỷ lệ: cát mịn (nhỏ hơn 1mm) chiếm khoảng 90%, cát thô (1mm- 2mm) chiếm
khoảng 10% (Hình 3.2).
Bước đầu tiên là khâu ủ đất và trộn nguyên liệu. Đất sét được
đập nhỏ rồi ngâm nước trong hố đất trong khoảng ít nhất 12 tiếng, sau đó được lấy
ra nhồi (nhào, trộn) cùng với cát và nước. Đất sau khi nhồi xong được ủ lại, bọc
bằng nylong để dùng dần, nếu muốn để lâu thì cần ủ kỹ (Hình 3.1, 3.3).
2.4.2. Tạo dáng chum
Nhiều phương pháp thực nghiệm khác nhau được thực hiện để tìm được cách tạo dáng chum giống với những chum gốm
Sa Huỳnh nhất, đồng thời khả năng thực hiện được dễ dàng nhất và đặc biệt sẽ lưu lại những dấu
vết kỹ thuật như chum văn hoá Sa Huỳnh. Chỉ những cách thức làm gốm mà mang lại kết quả và đặc
biệt có những dấu vết kỹ thuật còn lưu lại trên đồ gốm giống với chum gốm Sa Huỳnh
mới được thực hiện.
Quá trình thực nghiệm tạo dáng chum gốm như sau: Lấy một lượng đất cần dùng
dàn đều hình gần tròn theo kích cỡ cần dùng để tạo đáy và sau đó dùng hai tay nắn
lên khoảng 5cm, sau đó nhồi thêm con chạch đất vào rìa đáy cho dày hơn. Dùng
hai tay lăn đất thành một dải tròn dài (con chạch đất) có đường kính khoảng 3cm
(vừa nắm tay) ghép nối vào phần thân đang làm. Tay ngoài xòe, tay trong ấn miết
con chạch vào thành gốm (ghép con chạch từ trong). Người thợ đi giật lùi, vừa
miết vừa đi xoay xung quanh đồ gốm. Ấn bẹp con chạch vào thân gốm, tay ngoài
xòe hỗ trợ ấn gốm vào trong. Tay trong vừa dải đất vừa ấn miết ở rìa ngón trỏ.
Sau đó nhúng tay ướt, tay trong xòe, tay ngoài dùng rìa ngón trỏ miết những đường
ghép nối để con chạch đất gắn chặt vào phần thân và vuốt lên cho thành gốm mỏng
và tròn đều. Thường xuyên nhúng tay vào nước để tay không dính đất và để tăng độ
láng cho gốm. Một con chạch ghép được vuốt cao khoảng 5 - 6cm. Thông thường, mỗi
lần ghép nối 2 - 3 vòng đất rồi mới chuốt sửa một lượt. Đến độ cao 30 - 40cm
người thợ lại chuốt sửa tổng thể một lần nữa. Do
đặc tính của sét làm gốm là càng tác động vật lý vận động thì càng dẻo và ướt,
nếu ướt quá sẽ rất khó tạo dáng, đặc biệt những đồ gốm có kích thước lớn sẽ bị
sụp, méo. Do đó, cần phải có thời gian để gốm khô hơn mới có thể tiếp tục ghép nối hoặc tác động vào gốm được. Về phần miệng,
người thợ lên đất đến độ cao cần thiết, đợi gốm se, sau đó, dùng giẻ ướt vuốt
xung quanh thành miệng đã được tạo dáng từ trước.
Chum gốm Sa Huỳnh có nhiều biến thể khác nhau, trong đó hình dáng của phần
đáy chum có ảnh hưởng nhiều đến các cách thức tạo dáng chum. Các chum gốm cơ bản
có dạng hình trụ, một số chum có đáy bằng, song đa phần đáy chum có độ cong lớn
(đáy tròn). Đối với các chum gốm có đáy bằng hoặc gần bằng, có thể làm bình thường
từ dưới lên trên theo cách thông thường trên bàn kê cố định (Hình 4). Tuy nhiên, đối với các chum có
đáy tròn thì không thể làm theo cách đó. Để tạo các dáng chum đáy tròn, nhiều
thử nghiệm đã được tiến hành trong cả hai đợt thực nghiệm. Trong phạm vi bài viết,
chúng tôi sẽ chỉ trình bày hai cách thức tạo dáng chum đã cho kết quả khả quan
hơn được thực hiện trong đợt thực nghiệm thứ hai.
Trường hợp thực nghiệm theo
cách thứ nhất (T1) là tạo dáng chum
theo cách làm từ đáy lên miệng có sử dụng khuôn để tạo đáy trước (Hình
5). Khuôn là một chậu gốm khác, để có kiểu dáng tương đồng với chum mẫu,
chúng tôi đã sử dụng đất sét đắp thêm trong lòng chậu gốm tạo khuôn có hình
dáng mong muốn. Khuôn đất sét được phơi khô se bề mặt để khỏi dính chặt vào
chum gốm cần làm và khi nhấc lên sẽ không bị hỏng chum. Chum được làm thực nghiệm
cao 77cm, đường kính miệng 40cm, đường kính thân 36,5cm, dày 1- 1,2cm. Đối với
chum gốm làm bằng cách này, do đáy có khuôn nên cho đất vào khuôn dàn đều, rồi
sử dụng kỹ thuật dải cuộn, ghép nối các con chạch đất từ phần trên khuôn lên tới
miệng theo đúng kiểu dáng mẫu đã chọn. Sau công đoạn tạo dáng cơ bản, chum gốm
được chỉnh dáng để hoàn thiện kiểu dáng như mong muốn trước khi gốm bị khô quá.
Trong quá trình làm sử dụng bàn đập để chỉnh dáng và tạo cho bề mặt gốm chắc
hơn, kỹ thuật miết láng cũng được sử dụng để tạo lớp áo nhẵn bóng ở nửa thân
phía trên không phủ văn thừng. Bàn đập được quấn các dây thừng để tạo hoa
văn trong quá trình chỉnh dáng bằng bàn đập.
Để chum gốm khô se thân trên (khoảng 2 ngày) đủ cứng để
có thể nhấc chum khỏi khuôn và lật úp miệng chum xuống nền, việc nâng chum lên
cần 3 người tham gia vì nguyên liệu vẫn ẩm ướt
nên khá nặng. Trên đáy chum có nhiều vết nứt, nhăn in theo khuôn, vết ghép nối
con chạch nhưng không được miết kỹ như bình thường. Tiếp theo là cạo sửa và đập
đáy để hoàn thiện phần đáy.
Trường hợp thực nghiệm theo
cách thứ ba (T3) là tạo dáng phần thân trên chum theo hướng từ dưới thân lên tới
miệng, sau khi khô sẽ lật ngược phần thân trên úp miệng xuống và tạo dáng tiếp
cho tới phần đáy chum (Hình 6). Với cách thực nghiệm này,
chúng tôi làm theo hai kiểu dáng: thứ nhất (T3a) là kiểu chum có thân thẳng không có vai, thứ hai (T3b) là kiểu chum có vành miệng loe xiên, cổ thắt,
vai phình. Chúng tôi muốn kiểm tra xem với cách làm này thì kiểu chum vai phình
liệu có làm được không.
Dồn đất thành vòng tròn theo kích thước của chum mẫu, nạo
vét gần hết lớp đất trong lòng, để lại một phần đất sát vành thân chum, mục
đích để vừa chắc thân gốm vừa giữ ẩm. Để giữ ẩm cho việc ghép nối sau này,
chúng tôi đã dùng vải ẩm quấn xung quanh phần thân đặt trên bàn kê (nền sân).
Làm cao khoảng 40cm. Khi phần miệng khô đảm bảo đủ cứng để có thể chịu được áp
lực nặng của phần thân chum sẽ làm, chúng tôi lật úp miệng chum xuống nền. Dỡ bỏ
ít đất ở trên, cạo sửa phần thân cho thẳng theo dáng bằng dụng cụ nạo và dùng
bàn đập, đập thân cho thẳng và đều. Cho thêm một chút nước làm ướt phần tiếp nối,
bóp đất cho mỏng và cao lên để tiếp tục ghép nối con chạch cho kết dính vào
nhau. Tay trái đỡ bên ngoài, tay phải cầm con chạch bên trong tiếp tục tạo dáng
phần thân cao dần lên đáy theo đúng kích thước mẫu. Do phần đáy có độ cong lớn
và không có điểm tựa nên dễ bị sụp, do đó phải đợi phần gốm đã làm khô mới làm
tiếp được, nên mỗi lần ghép nối con chạch chỉ từng vòng một và lại đợi khô mới
ghép tiếp cho đến khi khép kín hết đáy. Phần này cũng đòi hỏi kinh nghiệm lâu
năm của người thợ để xác định đất khô đủ độ để làm tiếp nếu không rất dễ bị sụp
xuống.
2.4.3. Tu sửa dáng
và tạo hoa văn
Kỹ thuật bàn đập hòn
kê mục đích để làm chắc xương gốm, và chỉnh dáng gốm. Đồ gốm khi tạo dáng thường
có phần đáy và thân sát đáy dày hơn phần trên để đỡ phần trên vì khi ướt gốm dễ
bị sụp. Do đó, sau khi tạo dáng cơ bản cần chỉnh sửa làm cho phần này mỏng hơn.
Dấu vết dụng cụ này chưa được tìm thấy nhưng theo những tư liệu dân tộc học cho
thấy, bàn đập thường là một dụng cụ bằng gỗ, có hình chữ nhật dài. Hòn kê là nấm
gốm (mặc dù trong các di tích Sa Huỳnh chưa tìm được những nấm gốm này nhưng
trong nhiều di tích khảo cổ khác đã phát hiện được). Hiện nay nhiều làng gốm vẫn
dùng hòn đá cuội nhẵn (như ở Bản Mé, Sơn La) hay dùng chính bàn tay của người
thợ gốm (như ở Bàu Trúc). Bàn đập đập bên ngoài thân gốm, hòn kê/bàn tay kia sẽ
đỡ theo ở bên trong, kỹ thuật bàn đập hòn kê được tiến hành khi gốm đã khô ở một
mức độ nhất định, khi mà gốm vẫn còn có thể uốn được nhưng độ dẻo đã giảm bớt
Trong quá trình tạo dáng, kỹ thuật tu chỉnh hoàn thiện dáng cũng được kết
hợp cùng giữa các công đoạn tùy theo mức độ khô/ẩm của gốm. Hầu hết các chum gốm
Sa Huỳnh đều phủ văn thừng ở phần thân bên ngoài, đặc biệt là phần thân sát đáy
và đáy. Những vết văn thừng có khi thẳng cũng có lúc thành từng cụm chéo như ở
Động Cườm. Đây chính là những dấu vết mang tính kỹ thuật. Khi tạo dáng gốm người
thợ phải sử dụng bàn đập, bàn đập thường sẽ được quấn bằng dây thừng. Dấu thừng
tạo ra những lằn nhỏ song song theo hướng thẳng và chạy từ trên xuống trong khi
các dấu thừng trên phần thân thấp và đáy nghiêng hoặc chéo nhau. Mục đích của
việc sử dụng bàn đập có quấn thừng trước hết nhằm giảm việc dính bàn đập vào đất
sét ướt. Thứ hai, những lằn thừng nhỏ có thể giúp việc làm chắc xương và làm
xương gốm mỏng hơn. Ngoài ra, bàn đập
được dùng để hoàn chỉnh dáng của đồ gốm, nếu dùng bàn đập trơn, khi đập sẽ để lại
dấu vết bàn dập in trên thân gốm, cần phải được xóa. Nếu bàn đập quấn dây thừng,
thì sẽ che được dấu vết kỹ thuật do sẽ chỉ nhìn thấy hoa văn thừng trên đồ gốm.
Tuy nhiên với các chum làm phần đáy sau, có thể sẽ không thể sử dụng kỹ thuật đập
thừng mà lăn thừng với mục đích trang trí là chủ yếu. Phần thân trên đôi
khi thường được miết bóng và không phủ văn thừng. Ngoài ra, mặc dù xương gốm của
chum gốm thường thô hoặc rất thô nhưng bề mặt của nhiều chum là mịn và bóng như
được phủ một lớp áo. Có thể tạo áo gốm bằng cách dùng giẻ ướt xoa vuốt gốm sẽ
làm cho lớp sét mịn nổi lên bề mặt tạo cho gốm mịn và bóng
Kỹ thuật đập văn thừng để hoàn thiện dáng thường tập trung chính ở nửa thân
dưới và đáy. Phần thân trên đôi khi cũng được đập văn thừng song nếu có cũng
không đậm đặc như nửa dưới. Có thể phần thân trên thường được miết bóng xóa hết
dấu vết thừng. Những dụng cụ dùng để miết bóng gốm có thể bằng vỏ nhuyễn thể, bằng
tre (hiện nay cư dân Bàu Trúc vẫn dùng các dụng cụ bằng chất liệu này để miết
bóng gốm) hoặc bằng xương sừng hay đá cuội.
2.4.4. Làm khô gốm
Việc làm khô gốm là một công đoạn không thể
thiếu trong quy trình chế tạo đồ gốm. Mục đích của việc làm khô gốm là để tránh sự co ngót và dẫn đến việc nứt và
cong vênh do độ ẩm trên đồ gốm không đều. Nếu gốm chưa thực sự khô hẳn, khi nung sẽ
bị nổ, do nước bốc hơi không đều. Công đoạn này phụ thuộc nhiều vào thời tiết.
Gốm sau khi
hoàn thiện sẽ được phơi với nhiều công đoạn khác nhau. Sau khi gốm được hoàn
thành, người thợ sẽ để gốm tự khô trong bóng râm, thời gian này thường kết hợp
với việc chỉnh sửa và tạo hoa văn. Trong khoảng 10 ngày khi phôi gốm tự khô dần
và chuyển thành màu trắng thì được đem ra ngoài nắng phơi cho khô hẳn trước khi
nung.
2.4.5. Nung gốm
Nung là một kỹ thuật vô cùng quan trọng trong quy trình chế tạo đồ gốm. Mục
đích làm làm cho đồ gốm phải chịu đủ nhiệt độ trong một thời gian đủ để đảm bảo
phá vỡ hoàn toàn cấu trúc của khoáng vật sét. Từ đó đồ gốm sẽ có được các đặc
tính như độ cứng, độ bền đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Nguyên liệu nung gốm là các loại củi
nhỏ và rơm ở địa phương. Xếp một lớp củi dạng hình chữ nhật trên nền đất, các
chum gốm được xếp nằm trực tiếp lên trên lớp củi, các đồ gốm nhỏ đặt xen kẽ giữa
các chum gốm. Chum gốm đặt nằm nghiêng ở chính giữa, các đồ gốm nhỏ đặt
xung quanh hoặc xen kẽ các chum. Phủ một lớp củi nhỏ lên trên và xung quanh đồ
gốm sau đó phủ rơm lên trên cùng. Sau khi lớp rơm bị cháy hết lửa sẽ bén cháy
vào củi, chủ yếu lớp than củi này sẽ nung chín gốm. Phần trên của đống lửa thường
xuyên bị gió thổi bay lớp than tro nên ít nhiệt hơn, đặc biệt là ở các góc phía
ngoài, do đó phải thêm các thanh củi và rơm ở những vị trí đó. Thời gian nung
khoảng 2 tiếng, lửa cháy trong 30 phút sau đó ủ trong than tro thêm 1h30 phút.
Sau khi hoàn thành, lớp tro mỏng bị gió thổi bay làm lộ một phần chum gốm ra
ngoài không khí đã gây một số vết nứt nhẹ phía ngoài thân chum, các vết nứt
không theo quy luật (Hình 7).
3. Kết quả thực
nghiệm
3.1. Kết quả
thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm đã được chúng tôi tiến
hành để kiểm chứng một số giả định, từ các công đoạn tạo dáng bằng phương pháp
ghép con chạch, phơi gốm, nung gốm bằng các nguyên liệu hiện tại của làng gốm
Bàu Trúc. Những kết quả thu được qua quá trình thực nghiệm cũng góp phần minh chứng cho một số giả định phục vụ cho việc
nghiên cứu kỹ thuật chế tạo gốm Sa Huỳnh.
3.1.1. Kết quả
thực nghiệm tạo dáng
- Đối với chum
được tạo dáng
theo cách thứ nhất (T1):
Quá trình thực
nghiệm cho thấy ưu điểm của cách làm này là tạo dáng chum từ đáy lên miệng khá
thuận lợi và dễ dàng. Điểm hạn chế của các làm này là phần đáy bên ngoài do bị
áp vào khuôn nên không được miết và xử lý như kỹ thuật ghép con chạch bình thường.
Do đó ở phần đáy chum, sự kết nối giữa các con chạch đất sẽ kém hơn, không bền
vừng vì chỉ có thể miết, vuốt ở phía bên trong lòng, trong khi bình thường sau
khi ghép nối thêm đất các thợ gốm sẽ phải miết kỹ cả bên trong và bên ngoài. Một
hạn chế lớn nhất là chum sẽ dễ bị nứt ở phần tiếp giáp giữa phần thân gốm trong
khuôn và phần thân ngoài khuôn. Do ở trong khuôn gốm không bị bốc hơi nước
nhanh như phân thân phía ngoài. Trong quá trình làm cần phải che đậy cẩn thận
phần thân đó để khô từ từ. Dấu vết kỹ thuật để lại là đáy chum có độ dày không
đều do khó kiểm soát xương gốm khi tạo đáy trong khuôn.
- Đối với chum được tạo dáng theo cách thứ ba (T3):
Các chum làm theo cách này đều đòi hỏi người thợ phải có
nhiều kinh nghiệm, và làm phần đáy không được vội vàng. Dấu vết kỹ thuật để lại:
đối với chum gốm làm theo cách này, dấu vết kỹ thuật còn lại là những đường
ghép nối con chạch ở gần trung tâm đáy chưa được chỉnh sửa và vết con chạch lồi
ở trung tâm đáy do khi khép đáy, lỗ hẹp không thể cho tay vào để miết kỹ.
Còn các cách thức khác mà chúng tôi thử nghiệm hoặc không
thành công (bị sụp, nứt trong quá trình thực nghiệm) hoặc cũng có thể tạo được
hình dáng mong muốn nhưng cách làm phức tạp, mất công. Do đó, chúng tôi nhận định
đó không phải là cách các thợ gốm Sa Huỳnh đã làm chum gốm.
3.1.2. Kết quả thực nghiệm làm khô gốm
Trong quá trình thực nghiệm lần thứ nhất, do hạn chế về
thời gian chúng tôi muốn gốm nhanh khô để nung nên chum gốm đã bị nứt vỡ trong
quá trình phơi. Nguyên nhân do quá trình để chum gốm khô tự nhiên trong bóng
râm bị rút ngắn (5 ngày từ sau khi hoàn thiện dáng). Phần thân và miệng chum đã
khô ở mức độ nhất định trong khi phần đáy do dày hơn và bị áp vào nền kê nên
lâu khô hơn do đó phần này ẩm hơn phần trên. Chum được đưa ra phơi ngoài trời nắng
trong khoảng 45 phút đã bị nứt ngay tại phần thân sát đáy. Trong lần thực nghiệm
thứ hai, các chum gốm để khô tự nhiên, hoàn toàn trong bóng râm khoảng 3 tuần
(kể cả một số ngày bị mưa) trước khi nung.
3.1.3. Kết quả
thực nghiệm tạo hoa văn
Quá trình thực
nghiệm cũng cho thấy, việc đập văn thừng bằng bàn đập có quấn dây thừng sẽ
không thể tạo ra những hoa văn thừng sắc nét mà văn thừng sẽ bị mờ. Sử dụng bàn
đập chỉ tạo ra văn thừng sắc nét khi gốm còn ướt, khi gốm se bề mặt đập sẽ rất
mờ. Trong khi đó nếu tạo hoa văn thừng bằng cách in/lăn thì sẽ rõ và đẹp hơn và
kỹ thuật này chủ yếu mang tính trang trí. Đặc biệt,
trên đáy chum, rõ ràng văn thừng chỉ được tạo ra bằng cách in/lăn vì không thể
đập hoặc đập mạnh phần đáy khi phía trong không có tay đỡ (như các đồ gốm gia dụng
nhỏ), đập mạnh sẽ sụp đáy.
3.1.4. Kết
quả thực nghiệm nung
Do kỹ thuật nung khá thô sơ nên phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, gió to rất khó nung vì gió thổi bay hết lớp tro rơm phủ ở trên
các đồ gốm gây mất nhiệt, dẫn tới nhiệt nung không đều và đồ gốm dễ bị nứt, đặc
biệt là đối với các đồ gốm lớn. Chum thực nghiệm T3a có một vết nứt trên thân (Hình
14). Thực tế, ở làng gốm Bàu Trúc, tỷ lệ gốm lớn bị nứt do nung cũng chiếm
khoảng 30%, tuy nhiên những vết nứt này nhẹ và nông nên thợ gốm Bàu Trúc thường
phủ lên một lớp bột nước để che các vết nứt đó.
Quan sát màu sắc gốm sau khi nung có thể nhận thấy một số trường hợp: gốm màu đỏ sẫm, đều là những gốm được nung tốt nhất, lửa
cháy mạnh, than nhiều và đều, đầy đủ oxy; gốm có màu xám đen, hoặc một vài chỗ
có màu xám đen do gốm bị áp dính vào than, do đó không khí không vào được và quá trình oxy hóa chỉ thực hiện được một phần; loại gốm màu vàng nhạt
hơi ngả xám là những đồ gốm được nung ở nhiệt độ không cao do vị trí nằm ở
ngoài rìa của lò hoặc ít lửa. Ngay trên thân chum, cũng xuất hiện có những mảng màu không đều nhau là
những vệt, đốm màu đen xen lẫn màu đỏ, các chum gốm Sa Huỳnh cũng thường có những
dấu vết như vậy (Hình 2.2; Hình 8).
3.2. Đánh giá chung kết
quả thực nghiệm
Qua quá trình thực nghiệm và những kết
quả đạt được có thể rút ra một số đánh giá như sau:
- Với nguồn nguyên liệu được pha trộn
với càng nhiều cát thô, như chum gốm Sa Huỳnh, thì việc sử dụng bàn xoay (cả
nhanh và chậm) là khó có khả năng. Vì tốc độ xoay sẽ làm các hạt cát thô, sỏi,
cào xước tay người thợ gây đau rát rất khó để làm. Khi thực nghiệm bằng nguyên
liệu thô, những người thợ gốm cũng nhận thấy sự khác biệt khi chuốt, miết gốm
trong ghi ghép nối con chạch, so với chất liệu họ làm hàng ngày (không có cát
thô). Họ đều bị rát tay hơn so với làm gốm Bàu Trúc bình thường. Điều này
càng chứng tỏ, đối với các chum gốm có chất liệu pha trộn nhiều cát thô như
chum Sa Huỳnh có thể không sử dụng bàn xoay.
- Trên đồ gốm Sa Huỳnh, có những dấu
vết xoay mà trước đây nhiều người cho rằng đó là dấu vết của bàn xoay. Rất khó phân biệt vết xoay của bàn xoay hay người
xoay quanh gốm, vì những dấu vết giống như được tạo ra bởi bàn xoay thì khi chuốt
gốm người thợ xoay quanh đồ gốm cũng tạo ra được như vậy (Hình 12). Dấu
vết này không chỉ tìm thấy trên đồ gốm Sa Huỳnh mà còn thấy trên nhiều đồ gốm
tiền sơ - sử khác. Do đó cần phải xem xét nhiều yếu tố khi kết luận làm gốm bằng
bàn xoay hay không, trong đó đặc điểm nguyên liệu cũng cần được quan tâm đến.
- Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy rằng
tùy theo kiểu dáng chum gốm, đặc biệt là phần đáy để có các cách làm khác nhau
và sẽ tạo ra những dấu vết kỹ thuật phù hợp với những dấu vết kỹ thuật của chum
Sa Huỳnh. Các phương pháp khác nhau được tiến hành để kiểm tra các giả định về cách
thức tạo dáng chum gốm. Dựa vào các dấu vết kỹ thuật còn lại trên các chum gốm
Sa Huỳnh, chúng tôi đã đưa ra các phương án/cách làm chum khác nhau. Sau đó, so
sánh và phân tích những dấu vết trên chum gốm thực nghiệm và chum gốm văn hóa
Sa Huỳnh, đã cho thấy những cách thức mà những thợ gốm Sa Huỳnh đã sử dụng để
chế tạo các chum gốm. Kết quả này cũng phù hợp với giả định và chúng tôi đã đưa
ra.
Đối với phương pháp tạo dáng theo cách thứ nhất là việc sử
dụng khuôn. Khuôn có thể là khuôn gốm, khuôn gỗ, hay đào hố đất nông. Trong đó,
khuôn gỗ là ít khả năng hơn vì mất công chế tác khuôn này trong khi kích thước
và kiểu dáng chum gốm rất đa dạng. Khuôn gốm và hố đất nông có thể linh hoạt
thay đổi, và có thể được tạo ra cho mỗi lần làm gốm khác nhau. Cách làm chum gốm
sử dụng khuôn để tạo đáy rồi làm tiếp từ đáy lên miệng dễ dàng hoàn hiện dáng
hơn các phương pháp khác. Cách làm này cũng sẽ không để lại dấu vết kỹ thuật gì
trong lòng chum cũng như đáy chum. Tuy nhiên, trong quá trình làm cần phải quan
tâm bọc phần thân nơi tiếp xúc giữa phần thân trong khuôn và phía trên để tránh
gây nứt. Với những người thợ chuyên nghiệp chắc chắn vấn đề này cũng không khó
để xử lý.
Đối với phương pháp thực nghiệm theo cách thứ ba (T2) là làm đáy
úp đã để lại những dấu vết ghép con chạch ở phía trong đáy chum, đặc biệt ở
trung tâm đáy có ít đất hơi lồi lên. Những dấu vết này do khi ghép con chạch,
người thợ gốm không thể thò tay vào phía trong để miết ghép. Những dấu vết kỹ
thuật trên chum gốm Sa Huỳnh đã được tìm thấy ở Thanh Chiếm (Hội An) đã giúp chúng
tôi khẳng định chắc chắn về cách làm chum theo phương pháp này. Rõ ràng có sự
tương đồng dấu vết kỹ thuật giữa chum gốm Sa Huỳnh và chum gốm thực nghiệm (Hình
9).
Những dấu vết kỹ thuật này không chỉ chứng minh cho thấy
kỹ thuật tạo dáng chum là kỹ thuật dải cuộn, ghép nối các con chạch mà còn cho
thấy phần đáy này được làm sau cùng nên người thợ gốm không thể chỉnh sửa miết
vuốt các chỗ ghép nối. Còn nếu làm từ đáy lên thì theo kỹ thuật bình thường người
thợ sẽ miết vuốt cả bên trong và bên ngoài đồ gốm để không chỉ về mặt thẩm mĩ
mà cả về mặt kỹ thuật để tạo cho thân gốm kết nối chặt với nhau và điều chỉnh
dáng gốm tròn đều theo kích thước mong muốn. Do đó trong trường hợp bất khả
kháng, người thợ mới phải để lại những chỗ ghép nối mà không xử lý gì cả. Đó là
do phần đáy được làm sau cùng, khi khoảng trống mà người thợ cần để cho tay vào
chỉnh sửa không đủ. Điều này càng chắc chắn hơn khi qua cách thực nghiệm của
chúng tôi, những dấu vết kỹ thuật này cũng được tìm thấy trên các chum gốm làm
phần đáy sau cùng.
Tuy nhiên, số lượng những chum gốm được phát hiện vẫn còn dấu vết ở trong
lòng như chum Thanh Chiếm rất hiếm. Khi nghiên cứu các chum gốm để tìm các dấu
vết kỹ thuật, chúng tôi thấy một số chum không để lại dấu vết kỹ thuật gì, một
số chum được phục dựng đã che hết các dấu vết kỹ thuật nếu có, trong khi đó, đối
với các chum gốm chưa được tiếp xúc trực tiếp chúng tôi cũng không thấy trong
các báo cáo đề cập đến. Với những chum mà không có dấu vết kỹ thuật này rất có
thể chúng được sử dụng khuôn tạo đáy hoặc bằng phương pháp làm đáy úp ngược sau
cùng nhưng sau đó người thợ đã chỉnh sửa và xóa hết những dấu vết kỹ thuật này để tạo thẩm mĩ cho đồ gốm.
Như vậy, kết quả thực nghiệm cho thấy, kỹ thuật tạo dáng
chum gốm theo cách ghép nối con chạch trên bàn kê cố định từ đáy lên miệng được
sử dụng đối với các chum đáy bằng. Đối với chum đáy tròn, có thể họ đã dùng hai
cách, đó là sử dụng khuôn dưới đáy và cách thứ hai là làm phần miệng chum trước
và úp ngược xuống để làm phần đáy sau. Kết quả này cũng phù hợp với giả thiết
và chúng tôi đã đưa ra.
Trong thực nghiệm,
khi dịch chuyển một chum gốm (chưa khô), có chiều
cao 80cm, đường kính miệng 60cm, dày 1- 1,5cm, cần có 2-3
người mới có thể nâng chum lên được (luôn phải có một nam giới và một phụ nữ hoặc
ba người phụ nữ mới). Điều này cũng sẽ cho thấy về cách thức tổ chức sản xuất
chum gốm Sa Huỳnh.
4. Kết luận
- Các chum gốm Sa Huỳnh đã được tạo dáng bằng kỹ thuật dải cuộn kết hợp bàn đập
hòn kê trên bàn kê cố định và nung trong các lò mở (nung trong đống lửa ngoài
trời). Tuy nhiên về các bước quy trình kỹ thuật cụ thể trong tạo dáng chum có
thể có những khác biệt. Các thợ gốm Sa Huỳnh có thể đã dùng nhiều cách tạo dáng
gốm khác nhau tùy thuộc vào kiểu dáng, kích thước của đồ gốm, đặc biệt là đối với
các chum gốm. Đó là cách làm tạo dáng chum truyền thống từ dưới đáy lên miệng với
chum đáy bằng, gần bằng. Và đối với các chum đáy cong tròn thì việc sử dụng
khuôn hoặc tạo dáng phần đáy sau đều có thể là những cách mà những thợ gốm Sa
Huỳnh đã sử dụng để làm gốm.
- Qua thực nghiệm cũng nhận thấy
rằng để làm được các chum đó phải là những người thợ chuyên nghiệp. Tư liệu dân tộc học nói chung và ở làng gốm Bàu Trúc cũng cho thấy rằng,
trong hầu hết các làng gốm thủ công làm bằng tay và nung ngoài trời đều do phụ
nữ đảm nhiệm, một số làng khác thì phụ nữ làm các khâu kỹ thuật chính còn một số
công đoạn khác như khai thác nguyên liệu hoặc vận chuyển gốm sẽ do đàn ông đảm
nhiệm. Điều này cũng gợi ý cho thấy, trong tổ chức sản xuất gốm Sa Huỳnh, có thể
có sự kết hợp cả nam giới và phụ nữ trong quá trình sản xuất gốm, giữa họ sẽ có
sự phân công lao động trong một số khâu nhất định. Việc sản xuất những chum lớn
trong văn hóa Sa Huỳnh đòi hỏi nhiều nguyên liệu và mất nhiều sức lực trong việc
di chuyển chum, do đó có thể có sự tham gia của đàn ông trong một số công đoạn
như khai thác nguyên liệu, trong các công đoạn phơi, vận chuyển gốm trao đổi với
người tiêu thụ,...
- Những kết quả thực nghiệm này đã mang lại những ý nghĩa nhất định cho việc
nghiên cứu kỹ thuật chế tạo đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh. Kết quả thực nghiệm đã cho
thấy được một trong những cách/kỹ thuật trong quy trình chế tạo đồ gốm, hiểu rõ
hơn cách thức, kỹ thuật của các thợ gốm. Mối liên hệ giữa kỹ thuật và dấu vết kỹ
thuật để lại trên đồ gốm cần phải được nghiên cứu qua thực nghiệm. Phải tiến hành thực nghiệm bằng
nhiều phương pháp khác nhau để tìm được cách tạo dáng chum giống với những chum
gốm tìm được trong các di tích khảo cổ nhất, đồng thời khả năng thực hiện được
dễ dàng nhất.
- Một ý
nghĩa quan trọng khác của kết quả nghiên cứu thực nghiệm là bên cạnh việc tìm
hiểu nhận thức về lịch sử, thì còn đóng góp cho việc phát huy giá trị di sản khảo
cổ học văn hoá Sa Huỳnh. Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, có thể phục dựng
mô hình của việc sản xuất chum gốm và trưng bày trong các bảo tàng, khu di tích
văn hoá Sa Huỳnh giúp cho người xem có thể hiểu rõ hơn về cách thức chế tạo đồ
gốm của cư dân văn hoá Sa Huỳnh so với việc chỉ trưng bày các hiện vật riêng lẻ.
- Tuy đã đạt được một số kết quả
nhất định nhưng nghiên cứu thực nghiệm này vẫn còn một số những hạn chế. Đó là
chưa nghiên cứu và tìm được chính xác nguồn nguyên liệu của gốm Sa Huỳnh để thực
nghiệm, điều này có tác động nhiều đến kỹ thuật nung. Vì với mỗi nguồn nguyên
liệu đất sét khác nhau sẽ liên quan đến cách thức và nhiệt độ nung khác nhau.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chưa thực hiện được những phân tích thạch học và độ
nung các chum gốm sau khi thực nghiệm để kiểm chứng thêm được về khâu pha trộn
nguyên liệu và kỹ thuật nung. Ngoài ra, cần có thêm những quan sát tỷ mỉ để ghi nhận những dấu vết
kỹ thuật trên các di vật.
- Từ những hạn chế của nghiên cứu và những nhận thức có
được qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận thấy những hướng nghiên cứu
cần phải tiếp tục thực hiện trong tương lai. Để tiếp tục
nâng cao, và hoàn thiện cần phải có thêm những nghiên cứu thực nghiệm, đặc biệt
là thực nghiệm về chất liệu và độ nung. Nghiên cứu mối tương quan giữa chất liệu, tỷ lệ
pha trộn chất gầy, thành phần chất gầy với nhiệt độ nung. Thực nghiệm
nguyên liệu đòi hỏi phải thu thập được các mẫu đất sét nguyên liệu ở gần các di
tích Sa Huỳnh và thực hiện nhiều phân tích sau nung. Hiện nay theo những bản đồ địa chất, chúng ta có thể biết được các mỏ
sét đều có ở các địa phương miền Trung, dựa vào sự phân bố của các di tích Sa
Huỳnh để xác định các nguồn sét có thể khai thác, và tiến hành thực nghiệm. Đây
là hướng nghiên cứu trong tương lai không chỉ giúp ích cho việc tìm hiểu về các
nguồn nguyên liệu sản xuất gốm Sa Huỳnh mà đối với gốm tiền sơ sử nói chung
*Lời cảm ơn:
Xin cảm ơn Viện Khảo cổ học đã cấp kinh phí để nhóm tác giả đã tiến hành khảo
sát và thực nghiệm gốm tại Bàu Trúc. Chúng tôi cũng đặc biệt gửi lời tri ân đến
cố Nghệ nhân Đàng Xem, các nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đã hỗ trợ chúng tôi rất
nhiều trong quá trình thực nghiệm. Ngoài ra, cũng xin cảm ơn GS.TS. Lâm Thị Mỹ
Dung đã cung cấp hình ảnh tư liệu chum mộ khai quật tại di tích Thanh Chiếm, Quảng
Nam.
Bài viết là kết quả của các đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu, khảo sát quy trình sản xuất gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận)”và “Tiếp tục thực nghiệm chế tạo đồ gốm văn hoá
Sa Huỳnh tại Bàu Trúc (Ninh Thuận)” được thực hiện năm 2014 và 2019.
|

1
|

2
|

3
|
4
|

5

|
|
|
Hình 1. Một số mẫu chum Sa Huỳnh được
thực nghiệm
1-
Chum Tam Mỹ (Trịnh Căn, Phạm Văn Kỉnh 1987); 2- Chum
Động Cườm (Nguồn: Phạm Thị Ninh 2003);
3- Chum Cồn Ràng (Nguồn: Bùi Văn Liêm);
4,5- Chum Bình Yên (Nguồn: Bùi Chí Hoàng và nnk 2004)
|
|
|

1
|

2
|
|
|
Hình 2. Một số dấu vết kỹ thuật trên chum gốm Sa Huỳnh
1. Chum Lai Nghi (Nguồn: Lâm Thị Mỹ Dung); 2. Chum Động Cườm (Nguồn: Phạm Thị Ninh 2003)
|
|
|

|

|

|
|
Hình 3. Chuẩn bị nguyên liệu thực nghiệm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|

|
![Untitled-14]()
|
![Untitled-16]()
|
|
![]()
|
![]()
|
![bt2]()
|
|
Hình 4. Thực nghiệm kỹ thuật tạo dáng chum
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
Chuẩn bị khuôn
|
Tạo đáy chum
|
Đập
chỉnh sửa dáng chum
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
Nâng chum lật úp xuống để chỉnh sửa đáy
|
Chỉnh sửa đáy chum
|
Chum hoàn thiện
|
|
Hình 5. Thực nghiệm chum bằng cách sử dụng khuôn dưới đáy
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
Hình 6. Thực nghiệm chum theo cách làm phần miệng trước, làm đáy
sau
|
|
![]()
|
![]()
|
|
![]() ![]()
|
![IMG_6882]() ![]()
|
|
|
|
|
Hình 7. Thực nghiệm nung gốm
|
|
![]()
|
![IMG_6863]()
|
|
Hình 9. Sản phẩm chum gốm thực nghiệm
|
|
![]()
|
![]()
|
![]()
|
|
Hình 10. Dấu vết kỹ thuật dưới đáy chum thực nghiệm tương đồng với dấu vết
trong đáy chum
Sa Huỳnh
|
|
![]()
|
![]()
|
|
Hình 11. Những vết ghép con chạch trong lòng chum vò
chưa được xóa hết
|
Hình 12. Dấu vết ghép nối
bên dưới lớp áo gốm mảnh chum Cồn Ràng (Nguồn: Bùi Văn
Liêm)
|
|
![]()
|
![]()
|
|
Hình 13. Những vết xước nhỏ, đều trên vành miệng được tạo ra sau
khi dùng giẻ ướt bẻ miệng
|
Hình 14. Chum gốm bị nứt
trong quá trình nung
|
|
(Nguồn: Hoàng Thúy Quỳnh)
|
TÀI LIỆU DẪN
BÙI CHÍ HOÀNG,
NGUYỄN THỊ HOÀI HƯƠNG, MARIKO YAMAGATA 2004. Địa điểm khảo cổ học Bình Yên và văn hóa
Sa Huỳnh ở Quảng Nam. Trong Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, (tập 1). Nxb. KHXH, Hà Nội: 929- 962.
CARLA M. SINIPOLI 1991. Approaches to Archaeological Ceramics. New York.
COSTIN, CATHY LYNNE 2000. The use of ethnoarchaeology for the
archaeological study of ceramic production.
In Journal of Archaeological Method and Theory 7(4):377–403.
COLIN RENFREW, PAUL
BANH (bản dịch của Đặng Văn Thắng, Lê Long Hồ, Trần Hạnh Minh Phương 1997). Khảo cổ học lý
thuyết, phương pháp và thực hành. Nxb. Trẻ.
DEAN E ARNOLD 1999.
Ceramics theory and cultural process. Cambrige university.
DIỆP ĐÌNH HOA 1977. Nghiên cứu độ thấm nước đồ gốm
cổ nước ta. Trong NPHMVKCH năm 1976. Nxb.
KHXH, Hà Nội: 376- 379.
HÀ VĂN TẤN, HÁN VĂN KHẨN, HÀ VĂN PHÙNG 1970. Thực nghiệm tạo hoa văn trên đồ gốm cổ. Trong Khảo cổ học, số 7 - 8:123 - 126.
HOÀNG THUÝ QUỲNH 2014. Nghiên cứu, khảo sát quy trình sản xuất gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận), Đề tài cấp cơ sở, Viện Khảo cổ học.
HOÀNG THUÝ QUỲNH 2016. Kỹ thuật chế tạo đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam. Luận án Tiến sỹ Lịch sử.
HOÀNG THUÝ QUỲNH, NGUYỄN THỊ THUÝ 2019. Tiếp tục thực nghiệm chế tạo đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh tại Bàu Trúc (Ninh Thuận). Đề tài cấp cơ sở Viện Khảo cổ học.
MIRIAM. T. STARK 2003.
Current issues in ceramic ethnoarchaeology research, Vol.11. In Journal of archaeological research,
No.3, p:193- 242
NGUYỄN KIM DUNG 1990. Phương pháp thực nghiệm và nghiên cứu dấu vết lao động trong khảo cổ học (ứng dụng trên các di vật đá). Trong Khảo cổ học, số 1-2: 23 - 37.
NGUYỄN KIM DUNG, ĐOÀN ĐỨC THÀNH, NGUYỄN VIỆT 1981, Thực nghiệm chế tạo đồ gốm Đa Bút và Phái Nam. Trong NPHMVKCH năm 1981. Nxb. KHXH, H.,: 47- 50.
NGUYỄN THỊ THUÝ 2017. Thực nghiệm chế tạo hoa văn đồ gốm Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Đề tài cấp cơ sở.
OWEN S. RYE 1981. Pottery
technology. Washington.
PHẠM THỊ NINH 2003. Báo cáo khai quật di tích mộ chum văn hóa
Sa Huỳnh tại Động Cườm thôn Tăng Long II, xã Tam Quan Nam huyện Hoài Nhơn tỷnh
Bình Định. Tư
liệu Viện Khảo cổ học, HS 543.
PHẠM THỊ NINH, NGUYỄN THỊ HẢO 2007. Kỹ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh ở di chỉ Suối Chình (đảo Lý Sơn). Trong NPHMVKCH năm 2006. Nxb. KHXH, H. :182 - 183.
PHẠM THỊ NINH 2009. Vài nét đặc trưng kỹ
thuật chế tác đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh. Trong NPHMVKCH
năm 2008. Nxb. Từ điển Bách Khoa,
H.,:306- 308.
TRỊNH CĂN, PHẠM VĂN KỈNH
1987. Khai quật khu mộ chum Tam Mỹ. Trong Khảo cổ học, số 4: 44- 48.
TECHNOLOGICAL EXPERIMENT OF MAKING
LARGE CERAMIC JARS OF SA HUỲNH CULTURE IN CENTRAL VIỆT NAM
HOÀNG THÚY QUỲNH, NGUYỄN THỊ THÚY
This article refers to the experimental
process of making Sa
Huỳnh-culture ceramic jars in Bàu
Trúc pottery village (Ninh Thuận) of the research project "Technology
for making Sa Huỳnh cultural
ceramics in Central Việt Nam".
It includes the stages of material selection and processing, shaping
techniques, patterning techniques, drying and firing techniques based on the
evidence from comparative, experimental ethnographic methods, and natural science
analysis. The experimental results have basically clarified the techniques and
processes of making ceramic jars, contributing to justification of some
assumptions for the research into the techniques for making Sa Huỳnh-culture ceramic jars.