KHẢO CỔ HỌC NHẬN THỨC: HÌNH TƯỢNG MAN NƯƠNG, HỆ THỐNG TỨ PHÁP VÀ CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT SIÊU VIỆT
Cái được biểu đạt siêu việt với tư cách là
một công cụ diễn giải
Trong
ngôn ngữ học kinh điển của F. Saussure, ký hiệu ngôn ngữ không thống nhất một
sự vật với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh. Hình ảnh
âm thanh không phải là âm thanh vật chất, một sự vật thuần túy vật lý, mà là
dấu ấn tâm lý của âm thanh đó, là hình ảnh tái hiện cung cấp cho chúng ta bằng
chứng về các giác quan của chúng ta; nó mang tính cảm quan, và đối lập với
phương diện khác của mối liên tưởng, là khái niệm trừu tượng hơn. Saussure cho
rằng hình ảnh âm thanh đó tạo thành dấu hiệu ngôn ngữ và là một thực thể tâm lý
có hai mặt gắn kết chặt chẽ với nhau, và chỉ có những liên tưởng được ngôn ngữ
thừa nhận mới được coi là phù hợp với hiện thực, và cần phải gạt bỏ bất cứ liên
tưởng nào khác. Từ đó có thể nói rằng dấu hiệu là sự kết hợp giữa khái niệm với
hình ảnh âm thanh, trong đó từ dấu hiệu chỉ được dùng cho hình ảnh âm thanh mà
thôi. Từ dấu hiệu được dùng để chỉ cái tổng thể, và thay từ hình ảnh âm thanh
bằng từ “cái biểu đạt”, thay từ khái niệm bằng từ “cái được biểu đạt” để làm rõ
sự đối lập giữa hai từ đó với nhau và với cái tổng thể. Dấu hiệu ngôn ngữ có
hai đặc trưng cơ bản, trở thành nguyên lý của chúng: i) nguyên lý tính võ đoán,
mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là võ đoán, mà dấu hiệu
là do cái biểu đạt và cái được biểu đạt tạo thành, vì vậy dấu hiệu ngôn ngữ là
võ đoán; ii) nguyên lý tính tuyến tính, cái biểu đạt là âm thanh, diễn ra trong
thời gian, là đại lượng có thể đo lường theo một tuyến thời gian, nên dấu hiệu
có đặc trưng tuyến tính. Dấu hiệu còn có hai đặc trưng khác, đó là: iii) tính
bất biến, vì ngôn ngữ là di sản được thừa hưởng từ các thế hệ trước, là sản
phẩm của lịch sử, nên nó là bất biến; iv) tính khả biến, vì ngôn ngữ diễn ra
trong thời gian, mà thời gian thì làm biến đổi mọi thứ, nên dấu hiệu ngôn ngữ
cũng biến đổi theo thời gian [Saussure, Ferdinand de 1967, pp.97-100].
Như vậy, theo cách hiểu của ngôn ngữ ký
hiệu học truyền thống, dấu hiệu có chức năng chuyển tải nghĩa, thông qua cái
biểu đạt [signifiant] có chức năng biểu đạt nghĩa bằng một hình thức cảm quan
nào đó, và cái được biểu đạt [signifié] có chức năng thể hiện nghĩa của ký hiệu
thông qua nội dung của một khái niệm nào đó. Đây cũng chính là một cấu trúc
điển hình, được tạo bởi các mặt đối lập, làm thành một trong những cơ sở quan
trọng nhất của cấu trúc luận Levi-Strauss. Và cũng chính khái niệm cái được
biểu đạt đã gợi hứng cho cha đẻ của giải cấu trúc là Jacques Derrida tạo ra một
khái niệm triết học kinh điển là “cái được biểu đạt siêu việt” [signifié
transcendantal]. Derrida đã sử dụng khái niệm này để phê phán và diễn giải bất
kỳ hệ thống cấu trúc nào. Theo ông, bất cứ cấu trúc nào cũng có một trung tâm, và
bất cứ trung tâm nào cũng là trung tâm của một cấu trúc, là nguồn gốc của cấu
trúc, chi phối và duy trì cấu trúc. Và khái niệm trung tâm đồng nghĩa với cái
được biểu đạt siêu việt, hay còn gọi là cái được biểu đạt tiên thiên, cái được
biểu đạt có trước kinh nghiệm [Derrida 1967a,b].
Hình tượng Man Nương trong hệ thống Tứ pháp
Khái niệm Tứ Pháp của Phật giáo
Pháp (tiếng Phạn धर्म dharma, Pali: धम्म
dhamma) là một khái niệm quan trọng với nhiều ý nghĩa trong các tôn giáo Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Sikh và đạo Jain (Kỳ Na). Trong các ngôn ngữ phương Tây, không có từ đơn nào tương đương để dịch dharma. Trong Ấn Độ giáo, pháp có nghĩa là hành vi được coi là phù hợp với ऋतंrta, trật tự tạo
ra cuộc sống
và vũ trụ, và bao gồm các trách
nhiệm, các quyền, các đạo luật, đức hạnh và ''chính
nghiệp''.
Trong Phật giáo, Pháp có nghĩa là "quy luật và trật tự vũ trụ", thể
hiện trong Phật pháp - những lời dạy của Đức Phật. Trong triết học Phật giáo,
các Pháp cũng đồng nghĩa với các "hiện tượng". Từ धर्मdharma
- pháp, trong tiếng Sanskrit cổ là một từ có từ căn dhṛ, có một nghĩa là
nắm, giữ, duy trì, vì vậy nghĩa mở rộng của nó là luật, quy luật. Pháp là một
khái niệm quan trọng trung tâm trong triết học và tôn giáo Ấn Độ, với nhiều ý
nghĩa tương đồng hoặc khác biệt trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và Kỳ Na giáo. Vì
vậy rất khó đưa ra một định nghĩa ngắn gọn cho khái niệm Pháp, với tư cách là
một từ có một lịch sử lâu dài và đa dạng, lại nằm giữa một tập hợp rất phức tạp
của các ý nghĩa và diễn giải khác nhau. [Horsch, Paul 2004]
Nghĩa của từ dharma phụ
thuộc vào bối cảnh và đã có những bước tiến hóa cùng với tư tưởng triết học và
tôn giáo Ấn Độ qua một giai đoạn lịch sử lâu dài. Trong các văn bản sớm nhất và
những huyền thoại cổ xưa của Ấn Độ giáo, dharma có nghĩa là luật của vũ
trụ, các quy tắc tạo ra vũ trụ từ sự hỗn loạn, sau đó là các nghi lễ. Về sau,
trong các bộ kinh Vedas, Upanishads, Puranas và các sử thi, nghĩa của từ dharma
đã bắt đầu trở nên tinh tế, phong phú, và phức tạp hơn, được áp dụng vào
các bối cảnh đa dạng hơn. Trong những bối cảnh nhất định, dharma chỉ
định các hành vi cần thiết con người để giữ gìn trật tự của sự vật trong vũ
trụ, các nguyên tắc ngăn chặn sự hỗn loạn; các hành vi và hành động cần thiết
đối với toàn bộ sự sống trong tự nhiên, xã hội, gia đình cũng như ở cấp độ cá
nhân. Pháp dharma bao gồm những ý tưởng như trách nhiệm, các quyền, các
phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, và tất cả các hành vi được coi là phù hợp,
đúng đắn, hoặc chính đáng về mặt đạo đức. [Dhand, Arti 2002] Từ phản nghĩa của
phápdharma là adharma (tiếng Phạn: अधर्मा),
có nghĩa là "không đúng pháp". Cũng giống như với pháp, từ adharma
bao gồm và hàm ý nhiều nghĩa, nhưng theo cách nói thông thường, thì adharma
có nghĩa là phản tự nhiên, vô luân, vô đạo đức, sai hay không hợp pháp. [28]
Trong Phật giáo và Kỳ Na giáo, pháp kết hợp các kinh điển và giáo lý của những
người sáng lập Phật giáo và Kỳ Na giáo là Đức Phật và Mahavira [Wezler,
Albrecht 2004].
Tượng Phật mẫu Man Nương chùa Phúc Nghiêm (chùa Tổ)
Trong Phật giáo, có nhiều loại pháp
được gọi là tứ pháp, chẳng hạn như: Theo bộ kinh Đại thừa Bản sinh
tâm địa quán (quyển 2) và Đại thừa Pháp uyển nghĩa lâm chương (quyển 6)
thì Tứ pháp là: i) Giáo pháp, ngôn giáo của chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại
và vị lai; ii) Lý pháp, nghĩa lý được diễn giải rõ ràng trong giáo pháp; iii)
Hành pháp, sự tu hành giới, định, tuệ ở nhân vị, căn cứ vào lý pháp để khởi
hành; iv) Quả pháp, tu hành viên mãn chứng được quả Niết Bàn vô vi. Chư Phật
dùng 4 pháp này dẫn dắt chúng sinh ra khỏi bể khổ sinh tử để đến được cảnh giới
Niết Bàn giải thoát. Chư Phật cũng nương vào 4 pháp này mà tu hành để đoạn trừ
tất cả mọi nghiệp chướng mà thành chính quả [Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ,
Quyển trung (Tuệ Viễn); Thành duy thức luận thuật ký, Quyển 1; Hoa nghiêm kinh
thám huyền ký, Quyển 3]. Tứ pháp chỉ 4 pháp tu hành của Bồ tát, theo kinh Đại
thừa tứ pháp do ngài Nhật Chiếu (Divakara 613 - 687) dịch, thì tứ pháp là: i)
Không bỏ tâm bồ đề; ii) Không bỏ thiện tri thức; iii) Không bỏ ưa thích kham
nhẫn, chịu đựng; iv) Không bỏ a lan nhã (chỗ vắng vẻ yên tĩnh). Luận Du già sư
địa, quyển 47 cũng xác định tứ pháp gồm: i) Khéo tu của Bồ Tát; ii) Dùng phương
tiện khéo léo giáo hóa chúng sinh; iii) Dùng Tứ nhiếp pháp làm lợi cho người
khác; iv) Đem thiện căn mình tu hành được hồi hướng Phật đạo bằng tâm không
điên đảo, không trở lại cầu quả báo thế gian. Tứ pháp trong Kinh Quán Phật tam
muội hải là: i) Ngày đêm 6 thời thuyết tội sám hối; ii) Thường nhớ nghĩ đến
Phật và không lừa dối chúng sinh; iii) Tu tập 6 hòa kinh: thân, khẩu, ý, giới,
kiến, lợi và tâm không sinh tức giận, kiêu mạn; iv) Tu tập 6 niệm: Niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên cấp thiết như cứu dầu bị
cháy [Phật giáo Việt Nam 1999: Phật Quang Từ điển, Tập 6. tr. 6765-6771].
Tượng Pháp Vân Chùa Dâu
Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp
báo, Quyển hạ nói đến sự thành Phật qua thứ lớp của Tứ pháp Tín, Giải, Chứng,
Hành. Còn kinh Tạp a hàm, quyển 15 thì nói đến tứ pháp chỉ 4 pháp trị bệnh ở
thế gian là: i) Khéo biết bệnh; ii) Khéo biết nguyên nhân của bệnh; iii) Khéo
biết cách trị bệnh; iv) Khéo biết cách giữ cho bệnh không tái phát. Riêng đức
Phật thì khéo biết bệnh của chúng sinh là do quá khổ, nguyên nhân của bệnh khổ
là do vô minh, lại khéo biết cách trị bệnh nên được gọi là Đại y vương. Ngoài
ra, theo Thập trụ Tỳ bà sa luận, quyển 7 còn có Tứ pháp mà bậc Pháp sư phải có
đầy đủ, đó là: i) Học rộng nghe nhiều và có khả năng ghi nhớ tất cả ngôn từ
chương cú; ii) Quyết định và khéo biết tướng sinh diệt của các pháp thế gian và
xuất thế gian; iii) Được trí thiền định, đối với các kinh pháp tùy thuận không
tranh luận; iv) Thực hành đúng những điều mình giảng nói, không thêm bớt. Tứ
pháp chỉ chung 4 loại phép tắc, như Pháp hoa Tứ pháp, Niết bàn Tứ pháp, Lăng
già Tứ pháp, Bồ tát Tứ pháp, Thế y Tứ pháp, Pháp sư Tứ pháp, trong đó Pháp hoa
Tứ pháp là: Chư Phật hộ niệm, trồng các gốc đức, vào chính định tụ và phát tâm
cứu tất cả chúng sinh. Lăng già Tứ pháp là: Năm pháp, ba tự tính, tám thức và
hai vô ngã. Niết bàn Tứ pháp là: Gần thiện tri thức, lắng nghe chính pháp, tư
duy nghĩa lý, và như pháp tu hành. Ngoài ra kinh Đại bát Niết bàn quyển thượng,
lấy giới, định, tuệ rồi thêm giải thoát nữa để gọi là Tứ pháp (Kinh Đại Niết
bàn, quyển 18, phẩm Phổ Hiền khuyến phát kinh Pháp hoa). Còn một tứ pháp nữa
là: Giáo, Hành, Tín, Chứng của Tịnh độ Chân tông do tổ Khai sáng ở Nhật Bản là
ngài Thân Loan (親鸞 Shinran, 1173 - 1262) thành lập trong Giáo hành tín
chứng văn loại, là đại cương của tông này [Phật giáo Việt Nam 1999: Phật Quang
Từ điển, Tập 6. tr. 6765-6771].
Rõ ràng hệ thống tứ pháp chùa Dâu
không phải là các Tứ pháp Phật giáo kinh điển đề cập ở trên. Đó là một hệ thống
riêng biệt, tuân thủ đúng trật tự vũ trụ, kể cả nhân giới và nhiên giới, nhưng
không giống với bất cứ hình thức Tứ pháp đã có nào trong lịch sử Phật giáo Thế
giới.
Hệ thống Tứ Pháp chùa Dâu
dưới lăng kính cấu trúc luận
Cấu trúc luận là một trường phái
tư tưởng có liên quan đến cấu trúc dựa trên cơ sở của các sự kiện ngôn ngữ của
Ferdinand Saussure. Một cấu trúc được tạo bởi sự sắp xếp của các yếu tố với
nhau, theo nguyên tắc đối lập nhị phân, sao cho toàn bộ các yếu tố và các kết
nối của chúng tạo thành một hệ thống độc lập. Theo Lévi-Strauss, đặc tính độc
đáo của cấu trúc luận là các yếu tố không tồn tại trước khi có hệ thống; những
yếu tố này xuất hiện với các mối quan hệ của chúng. Thậm chí chúng ta có thể
nhận thấy rằng đây là mối quan hệ làm bộc lộ các yếu tố [Lévi-Strauss, Claude
1958]. Một cấu trúc phải thể hiện đặc trưng hệ thống. Nó bao gồm các yếu tố sao
cho bất kỳ biến đổi nào của chúng cũng tạo ra sự biến đổicủa tất cả các yếu tố
khác. Bất kỳ mô hình nào thuộc một nhóm các biến đổi mà mỗi biến đổi đều tương
ứng với một mô hình của cùng một dòng, vì vậy toàn bộ các biến đổi này tạo
thành một nhóm mô hình. Các thuộc tính được đề cập ở trên có thể tiên đoán mô
hình sẽ phản ứng ra sao trong trường hợp biến đổi của một trong các yếu tố của
nó. Mô hình phải được tạo dựng sao cho sự vận hành của nó có thể giải thích cho
tất cảcác sự kiện được quan sát. Đối với Levi-Strauss, cấu trúc luận là sự liên
kết giữa các yếu tố khác biệt theo nguyên tắc đối lập. Sự sống còn của cấu trúc
luận là duy trì được sự khác biệt bằng phương thức liên kết nhị phân giữa các
khác biệt với nhau [Lévi-Strauss 1958].
Mọi hệ thống cấu trúc đều được
tạo bởi các cặp đối lập nhị phân, và phải có một trung tâm, nơi phát xuất của
toàn bộ hệ thống và xác quyết ý nghĩa của hệ thống, ít nhất là tính chất hiện
hữu của nó. Derrida chỉ ra rằng, khái niệm trung tâm có hai đặc điểm: i) là nơi
phát xuất của hệ thống và bảo đảm cho mọi thành phần trong hệ thống đó có được
tính chất tương liên; ii) chính trung tâm cũng là yếu tố vượt ra ngoài hệ
thống, không được điều phối bởi các quy luật của hệ thống. Trung tâm là phần
cốt lõi của mọi hệ thống, không gì trong hệ thống có thể thay thế được nó, vì
vậy trung tâm bao giờ cũng mang tính tuyệt đối. Trung tâm là nơi phát xuất sự
mâu thuẫn, vì nó là phần cốt yếu kiến tạo nên hệ thống mà không thuộc vào hệ
thống, nó không phải là một thành phần của tính toàn thể; cấu trúc trung tâm,
đóng phần quan trọng nhất của một hệ thống, trở thành mâu thuẫn trong tính chặt
chẽ của nó [Derrida 1967a,b].
Dưới lăng kính cấu trúc luận, có
thể thấy rất rõ các cặp đối lập nhị phân và các mối liên kết tạo thành một hệ
thống cấu trúc chặt chẽ trong hình tượng Man Nương và hệ thống Tứ Pháp. Đó
trước hết là các cặp đối lập được xây dựng xung quanh “cái trung tâm”, “tính
trung tâm” là hình tượng Man Nương; đặc biệt là hình tượng chủ chốt này đã được
đặt đối lập về mọi phương diện với Khâu Đà La: i) Nam/ nữ; ii) Bản địa/
người ngoài; iii) Già/ trẻ; iv) Có đạo/ không có đạo; iii) Có học/ không học;
iv) Đẳng cấp cao/ đẳng cấp thấp; v) Chủ động/ bị động; vi) Có phép thuật/ không
phép thuật; vii) Đi/ ở, …vv. Thứ hai là các cặp đối lập trong tự thân Man
Nương: i) Tự nhiên/ văn hóa; ii) Trinh tiết/ không còn trinh tiết; iii) Thể
xác/ tinh thần; iv) Đời/ đạo; v) Mẹ/ con; vi) Gia đình/ không gia đình. Thứ ba
là sự chuyển hóa giữa các cặp đối lập: i) sự thụ thai linh thiêng; ii) sự kết
hợp siêu nhiên giữa đứa trẻ và cây dung thụ; iii) Sự vắng mặt của Khâu Đà La;
iv) Man Nương tiếp nhận khả tính siêu phàm từ Khâu Đà La thông qua cây tích
trượng để cứu dân qua đại nạn ba năm liền hạn hán; v) cuộc gặp lại giữa mẹ và
con; vi) sự chuyển hóa của cây dung thụ thành Tứ Pháp; vii) A Man trở thành
Phật Mẫu.
Với tư cách là Phật Mẫu, hình
tượng Man Nương đã được xây dựng thành một cấu trúc Tứ pháp hoàn chỉnh, thuần
Việt; Man Nương trở thành mẹ của các vị Phật khác, có khả năng tạo ra và chi
phối các vị Phật khác là Bụt Mây - Pháp Vân, Bụt Mưa - Pháp Vũ, Bụt Sấm - Pháp
Lôi, và Bụt Chớp - Pháp Điện. Bà được thờ ở chùa Tổ - Phúc Nghiêm Tự, tại làng
Mãn Xá, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Trong hệ thống các Phật con thì
Pháp Vân là chị cả, được thờ ở ngôi chùa lớn Thiền Định, còn gọi là Diên Ứng tự
- chùa Dâu; Pháp Vũ là chị hai, được thờ ở chùa Đậu; Pháp Lôi là chị Ba được
thờ ở chùa Tướng; và em út Pháp Điện được thờ ở chùa Dàn. Theo đúng nghĩa của
khái niệm pháp - dharma thì rõ ràng hệ thống Tứ pháp chùa Dâu đã xây dựng được
một cấu trúc phù hợp với ऋतंrta, trật tự tạo ra cuộc sống
và vũ trụ, bao gồm các trách nhiệm của con người với con người, con người với
tự nhiên như trách nhiệm thầy trò giữa Man Nương và Khâu Đà La; trách nhiệm gia
đình giữa Man Nương và ông bà Tu Định, giữa Man Nương Phật Mẫu và Tứ Bụt cùng
Thạch Quang phật; trách nhiệm của Man Nương trong việc cứu dân làng khỏi đại
họa hạn hán; trách nhiệm và nghĩa vụ của các Phật con Tứ Pháp trong việc kính
thờ Phật Mẫu, v.v… tất cả đều thể hiện các đạo luật, đức hạnh và ''lối sống
chính đáng'', nhằm duy trì "quy luật và trật tự vũ trụ" phổ biến, kể
cả trong nhiên giới và trong nhân giới, tuân thủ tuyệt đối những lời dạy của
Đức Phật.
Hình tượng Man Nương với
tư cách là cái được biểu đạt siêu việt
Ý tưởng về cái được biểu đạt siêu
việt cho rằng luôn có một trung tâm nghĩa, bằng cách nào đó được ấn định, được
chỉ ra, hoặc được tiếp cận thông qua các công trình biểu hiện như văn học,
triết học, văn hóa, nghệ thuật và các khoa học xã hội và nhân văn khác. Có thể
gọi trung tâm này là "nền tảng nghĩa" được sử dụng - có ý thức hay vô
thức - như một điểm tham chiếu chủ yếu mà không có nó thì không còn sự tồn tại
của nghĩa nữa. Đối với Derrida, việc tạo dựng một cấu trúc chính là tạo dựng
một trung tâm nghĩa, một ngữ cảnh giả cho việc quy chiếu nghĩa. Cấu trúc luận
đã tạo ra khả năng coi các hệ thống tri thức và triết học là toàn bộ sự khẳng
định về tính trung tâm và về cái trung tâm. Tính trung tâm, cái trung tâm tạo
thành cơ sở, căn nguyên cho tất cả mọi thứ trong hệ thống làm cho nó trở nên
đặc biệt, không thể thay thế. Giả định đề đó cung cấp cho cái trung tâm thứ mà
Derrida gọi là "sự hiện diện của trung tâm" hoặc "sự hiện diện
trọn vẹn", tức là một cái gì đó không bao giờ được định nghĩa bằng cách
đặt trong tương quan với những thứ khác, bởi giá trị phủ định của nó. Derrida
gọi cái trung tâm đó là "cái được biểu đạt siêu việt" - nguồn cội tối
hậu của ý nghĩa. Điều đó có nghĩa là cái được biểu đạt siêu việt không thể được
đại diện, hoặc thay thế bởi bất kỳ cái biểu đạt tương ứng nào. Ý tưởng về Thiên
Chúa là một trong vô số ví dụ tốt nhất của cái được biểu đạt siêu việt. Thiên
Chúa không thể được đại diện bởi bất kỳ cái biểu đạt nào, nhưng Thiên Chúa lại
là trung tâm điểm mà tất cả mọi cái biểu đạt trong hệ thống đều phải quy chiếu,
phụ thuộc vào, vì chính Chúa đã tạo ra toàn bộ hệ thống [Derrida 1967b].
Căn cứ vào phân tích của Derrida
về cái được biểu đạt siêu việt với tư cách là một trung tâm nghĩa, làm điểm
tham chiếu cho cái cấu trúc do chính cái được biểu đạt siêu việt đó làm trung
tâm, thì Phật Mẫu Man Nương hoàn toàn thỏa mãn với tiêu chuẩn đó. Trước hết,
siêu việt tính của hình tượng Man Nương được thể hiện qua tính siêu nhiên của
một đức mẹ đồng trinh, đó là cuộc hoài thai linh thiêng của một thiếu nữ đồng
trinh, một cuộc hoài thai không hề có sự can thiệp của yếu tố tự nhiên, thông
thường, là sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà. Siêu việt tính ấy của
tích truyện Man Nương tiếp tục được đẩy tới bằng hình tượng Khâu Đà La gửi đứa
trẻ sơ sinh của trinh nữ Man Nương vào lòng cây dung thụ - cây đa - biểu tượng
của Phật giáo. Theo quan niệm nghĩa của cấu trúc luận thì người ta có thể diễn
giải nghĩa của hành động này là tính lưỡng hợp (dualité) giữa tự nhiên và văn
hóa: cây dung thụ là biểu tượng của tự nhiên, và đứa trẻ sơ sinh của Man Nương
là biểu tượng của văn hóa. Hình ảnh cây dung thụ mở lòng ôm lấy đứa trẻ có thể
được diễn giải là mẹ thiên nhiên luôn bao bọc, che chở cho con người, …vv. Tuy
nhiên, đối với giải cấu trúc của Derrida, không thể đơn giản chấp nhận nghĩa
của “sự kiện” trong tích truyện dựa vào cách diễn giải đối lập như vậy. Nghĩa
của sự kiện đó không thể sinh ra bằng cách tiếp cận đối lập giữa tự nhiên và
văn hóa, mà nó được quyết định, bị chi phối bởi cái được biểu đạt siêu việt của
trung tâm nghĩa là ý niệm Man Nương - Phật Mẫu.
Để làm rõ khái niệm cái được biểu
đạt siêu việt với vai trò là trung tâm cấu trúc, và cũng là trung tâm nghĩa,
Derrida phân tích các lý thuyết siêu hình cơ bản của phương Tây, bắt đầu từ nhà
triết học Hy Lạp cổ đại Plato. Ông đưa ra một danh sách các nguyên tắc "đã
luôn luôn chỉ định một sự hiện diện bất biến" trong quan hệ với trung tâm
như là một cấu trúc tĩnh, bao gồm "tính mục đích, tính siêu việt, ý thức,
Thiên Chúa, con người, …v.v". Derrida cho rằng người đàn ông, thực sự kế
vị Thiên Chúa và đặt vấn đề liệu Thiên Chúa có tạo ra người đàn ông hay chính
người đàn ông đã phát minh ra Thiên Chúa. Người ta cũng có thể hiểu rằng
Derrida thể hiện một khoảnh khắc lịch sử hoặc sự kiện xuất hiện theo người đàn
ông. Ngôn trung tâm luận [Logocentrism] là một thuật ngữ được Derrida sử dụng
để ấn định sự khao khát về một trung tâm hay cội nguồn của tất cả những ý
nghĩa, mà ông cho là đã thống trị triết học phương Tây kể từ Plato. Derrida tin
rằng đối với cái được biểu đạt siêu việt, có thể và cần thiết phải giải cấu
trúc với sự trợ giúp của siêu hình học hiện diện [métaphysique de la présence].
Bản chất của con người là khát vọng nhất quán nhằm tái cấu trúc lĩnh vực siêu
việt - cái hoàn toàn vắng mặt. Cội nguồn đã mất của con người luôn thôi thúc
chúng ta phải liên tục tái cấu trúc cái đã mất đó. Ý tưởng về sự hiện diện luôn
đeo đẳng ở mọi nơi, toàn bộ các khía cạnh kinh nghiệm và/ hoặc tồn tại đều được
chuyển thành một yếu tố gọi là sự hiện diện. Hiện diện mô tả về một
trạng thái gốc, một trạng thái phải xuất hiện đầu tiên: khi ta chú mục vào
trạng thái đó thì chính nó hiện diện trong quan sát của ta. Hiện diện trở thành
điều khẳng định chủ yếu về nghĩa của một văn bản, tri giác thấy hoặc
liên quan đến, mặc dù sự thật thì nghĩa này luôn luôn vắng mặt và cần phải được
tái cấu trúc thông qua việc đọc hoặc diễn giải. Sự hiện diện xâm chiếm ý thức
khi hiện thực vắng mặt, đó là tình trạng biến mất của thế giới hiện thực sau
bức màn ngôn ngữ của văn bản.
Không giống với Ngôn trung tâm
luận phương Tây luôn tái hiện cái khoảng khắc lịch sử quyết định thông qua
những sự kiện xuất hiện theo người đàn ông, trong tích truyện Man Nương, cái
khoảng khắc ấy, ngược lại, là sự kiện xuất hiện theo người đàn bà - Man Nương.
Vậy thì người đàn bà đầu tiên và cuối cùng - Man Nương - của tích truyện này đã
được tái hiện trong ký ức của cộng đồng như thế nào? Tích truyện đã để cho một
Man Nương bằng xương bằng thịt, đại diện cho cái thế giới hiện thực, biến mất
sau bức màn ngôn ngữ của tích truyện. Nàng biến mất trước hết bằng sự kiện linh
thiêng hoài thai; và nàng tiếp tục biến mất bằng sự kiện cùng Khâu Đà La gửi
con cho cây dung thụ; rồi nàng lại tiếp tục biến mất bằng sự kiện nhận cây tích
trượng pháp thuật của Khâu Đà La, làm ra tràn lan nước giữa mùa đại hạn để cứu
sống cộng đồng; rồi Man Nương lại biến mất một lần nữa bằng sự kiện dùng dải
yếm kéo cây dung thụ lên bờ để ngươi Đào Lượng xẻ gỗ làm tượng Tứ Pháp; và lần
cuối cùng Man Nương vắng mặt tuyệt đối khi trở thành Phật Mẫu, trở thành Man
Nương ý niệm, trở thành cái được biểu đạt siêu việt. Quá trình biến mất hay
vắng mặt của Man Nương đã thể hiện rất rõ vai trò của “siêu hình học hiện
diện”, bởi vì một Man Nương có thật đã biến mất, đã vắng mặt hoàn toàn để nhường
lại cho một Man Nương - Ý niệm, một Man Nương - Phật Mẫu hiện diện tuyệt đối
trong ký ức của cộng đồng.
Hình tượng Man Nương -
vắng mặt và hiện diện
Đối với Derrida, giải cấu trúc có
nghĩa là xóa bỏ được sự khác biệt nhị phân, giải gỡ được liên kết, để chứng tỏ
tính đa nghĩa vô cùng tận của sự khác biệt phi nhị phân. Bí quyết để xóa bỏ sự
khác biệt nhị phân là phát hiện ra được nhân tố trung tâm chi phối cấu trúc và
duy trì cấu trúc, trong khi đặc tính của nhân tố trung tâm luôn nằm ngoài cấu
trúc và không chịu sự chi phối của cấu trúc. Vậy thì Derrida đã làm cách nào để
phát hiện được cái nhân tố bí ẩn đó, để xóa bỏ được một truyền thống tư duy đã
thống trị tri thức nhân loại suốt vài nghìn năm, tối thiểu là từ Platon trong
thời Hy Lạp cổ đại?. Trong mọi cấu trúc nhị phân thì nhân tố đứng trước, luôn
giá trị hơn, quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn, có ích hơn nhân tố đứng sau, ví
dụ: Tốt/xấu, Thiện/ác, Sáng/tối, Nam/nữ, Phải/trái, các nhân tố đứng trước bao
giờ cũng có giá trị áp đảo so với phần đứng sau. Derrida bác bỏ toàn bộ nguyên
lý nhị phân, các cặp đối lập; phủ định tính đối lập trong cấu trúc luận
Levi-Strauss. Derrida đã bác bỏ quan điểm nền tảng Cấu trúc luận của Claude
Lévi- Strauss cho rằng tính cấu trúc là một thuộc tính “cố hữu/ bản thể” của mọi
cấu trúc. Các đối lập được dựng nên một cách giả tạo như: tự nhiên/
văn hóa, phổ quát/ chuẩn mực đã bị triệt tiêu [Derrida
1967a,b].
Derrida cho rằng tình trạng biến
mất của thế giới hiện thực đó làm cho ý thức trở nên lầm lạc, cảm thấy vô
nghĩa, và tình trạng đó tạo thành khoảng trống (espacement). Trong khoảng trống
đó, toàn bộ các loại vắng mặt mang tính tri giác (εἶδος - eidos) đều phụ thuộc vào nguyên lý của sự hiện diện.
Nếu có bất cứ một sự vắng mặt nào không liên quan đến nguyên lý hiện diện, thì
đó chỉ có thể là sự vắng mặt tuyệt đối, một cái gì đó luôn luôn, và ngay từ đầu
đã vắng mặt, đã mất đi đối với kinh nghiệm. Chúng ta thoáng thấy sự vắng mặt
tuyệt đối ở những tái hiện vì khả tính tái hiện là khả tính của ký ức. Vì vậy
ký ức đến trước và vượt lên yếu tố hiện diện, là cái làm cho chúng ta nhớ lại.
Trong thực tế, tất cả những tên gọi liên quan đến các nền tảng, đến các nguyên
tắc, hoặc đến trung tâm đã luôn luôn chỉ định cái hằng số của sự hiện diện, bao
gồm: hình thức, nguồn gốc, mục đích, sinh lực, hữu thể, chân lý, siêu việt
tính, lương thức, thượng đế, con người, …v.v., [Derrida, J. 1967a, p.
409-429] và đối với chúng ta, cái tên gọi đó còn là phật mẫu nữa. Hiện diện và
vắng mặt chỉ là phương diện này và phương diện kia của hiện thực, nó luôn đi
liền với nhau, không thể có mặt này mà không có mặt kia. Vì vậy giải cấu trúc
không chấp nhận tính lưỡng thể (dualité) đó, cái lưỡng thể đó phải bị vĩnh viễn
tách khỏi nhau bằng tính khác biệt và tính vô tận của nghĩa. Vì vậy vắng mặt
phải là vắng mặt tuyệt đối, và hiện diện phải là hiện diện tuyệt đối. Ở trên
chúng ta đã nói đến quá trình vắng mặt dần dần để rồi dẫn đến sự vắng mặt tuyệt
đối của một Man Nương - Hiện thực, một thôn nữ, con gái ông bà Tu Định, để được
thay thế bằng sự hiện diện tuyệt đối của một Man Nương - Ý niệm, một Man Nương
- Phật Mẫu. Đây chính là một quá trình vắng mặt và hiện diện kép, một quá trình
tạo nghĩa vô tận của hình tượng Man Nương với tư cách là một trung tâm nghĩa
của hệ thống Tứ pháp. Trước hết đó là quá trình vắng mặt/ hiện diện kép và là
một quá trình vắng mặt/ hiện diện tuyệt đối, vì ngay từ đầu đã có một sự vắng
mặt tuyệt đối khác, đó là hình tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề mà sau này Man Nương là
hiện thân.
Phật Mẫu Chuẩn Đề (tiếng
Sanskrit: Cunidihi - चुन्दी, còn gọi là Tôn Na Phật
Mẫu, Chuẩn đề Phật Mẫu, Thất Câu đê chi Phật Mẫu. Bà là một trong sáu quan âm
của Phật Giáo. Trong Thai tạng giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị
Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện. Bà vốn là một vị Bồ tát thuộc dòng Đại Thừa, và
đặc biệt được nhắc đến nhiều trong Kim Cương thừa. Bà được tôn thờ ở dòng Đường
mật, hoặc Phật giáo Đông mật. Ở Trung Quốc Phật Mẫu Chuẩn đề được gọi là Chuẩn
đề Bồ tát (準提菩薩), hoặc Chuẩn đề Phật mẫu (準提佛母), còn ở Nhật Bản, bà
được gọi là Chuẩn đề Quán âm (准胝観音). Bà được xem là
Bhagavathi भगवती (từ tiếng Phạn có nghĩa là vận may, và là tên của nữ
thần Durga), hay "mẹ của các Phật", và thường được xem là ngang hàng
hoặc đồng nhất với Quán Thế Âm. Việc thờ cúng Phật mẫu Chuẩn đề thể hiện rất rõ
trong Hiến Cổ Châu Phật tổ Khoa nghi (Nghi lễ cung hiến Phật tổ chùa Cổ Châu):
稽首皈依蘇悉帝
kê
thủ quy y tô tất đế
頭面頂禮七俱胝
đầu diện đính lễ thất câu tri
我今稱讚大准提
ngã kim xưng
tán đại chuẩn đề
惟願慈悲垂加護
duy nguyện từ
bi thùy gia hộ
Cúi đầu quy y Tô Tất Đế
Thành tâm kính lễ Thất Câu Nhi
Con nay xưng tán Đại Chuẩn Đề
Xin nguyện từ bi rộng độ trì
[Nguyễn Quang Hồng 1997, tr. 122,
133]
Và sau đó là lời tụng Đại Chuẩn
Đề Đà La chú sau: Nam mô tát đá nẫm, tam diểu tam bồ đà. Câu Chi nẫm, bất điệt
tha. Úm. Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, sa bà ha (3 lần). [Nguyên văn Phạn ngữ là नमःसप्तानांसम्यक्संबुद्धकोटीनांतद्यथा। ॐचलेचुलेचुन्देस्वाहा॥ namaḥ saptānāṁ samyaksaṁbuddha kōṭīnāṃ tadyathā| ōṁ calē
culē cundē svāhā] Dịch nghĩa: Con quy y trước bảy ức hoàn hảo chư Phật. Như
thị: Om! Chuẩn đề! Chuẩn đề! Tối thắng!
Điều đáng chú ý là trong Khoa
nghi cung hiến Phật tổ chùa Cổ Châu có câu: “Khể thủ quy y Tô Tất Đế ** - Cúi
đầu quy y Tô Tất Đế” mà tác giả cuốn Di văn chùa Dâu ghi chú về Tô Tất
Đế như sau: “Có thể là một vị Bồ tát, chưa rõ là ai” [Nguyễn Quang Hồng 1997,
tr. 122, 133, 144], thì nhân vật đó chính là Bồ Tát Tô Tất Địa [Đế] Yết La (蘇悉地[帝]羯羅菩薩
tiếng Phạn là Susiddhikara. Hán dịch: Diệu Thành Tựu Nghiệp giả, cũng gọi là Tô
Tất Địa Già La Bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 đầu hàng dưới bên phải
trong viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật
hiệu là Thành tựu kim cương. Vị tôn này đứng đầu về đức khéo thành tựu muôn
pháp, có năng lực thành tựu các sự nghiệp thế gian, xuất thế gian, cho nên gọi
là Diệu thành tựu. Chủng tử là chữ (ji), bao hàm ý nghĩa khắc phục các chướng,
thành tựu mọi công đức, hoặc biểu thị nghĩa muôn đức xuất sinh thành tựu. Hình
tượng vị tôn này thân màu trắng ngà, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, 2 tay chắp
lại để rỗng ở giữa, các đầu ngón tay hướng xuống dưới, đặt ở trước ngực, hình
Tam muội da là thanh kiếm, biểu thị ý nghĩa chặt đứt mọi chướng ngại. Chân ngôn
là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm nhĩ phạ nhật la tất thể ra một đệ bố ra phạ
phạ đát mạ mãn đát ra sa ra sa ra phạ hạ. [X.phẩm Kim cương tạng đại uy thần
lực tam muội pháp ấn chú trong kinh Đà la ni tập Q.7; Huyền pháp tự nghi
quĩQ.2; Bí tạng kí] (Phật giáo Việt Nam 1999, tr. 6212).
Trong các cặp vắng mặt và hiện
diện tuyệt đối, còn một sự vắng mặt và hiện diện tuyệt đối khác, đã góp phần
tạo thành cấu trúc Tứ pháp, đó chính là các cặp Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi -
Pháp Điện đại diện cho các hiện tượng mây, mưa, sấm, sét. Cái logic của sự vắng
mặt tuyệt đối của các hình tượng (εἶδος - eidos) này chính là sự vắng mặt tuyệt đối của cái nhân hình
(anthropomorphic) và cũng chính là sự hiện diện tuyệt đối của các nhân hình đó,
khi các hiện tượng này đã được nhân hóa thành con của Phật Mẫu Man Nương, để
trở thành Bụt Mây, Bụt Mưa, Bụt Sấm, Bụt Sét. Và tích truyện Man Nương đã giải
quyết sự vắng mặt và hiện diện tuyệt đối này bằng cách nào để hình tượng Man
Nương - con người chuyển hóa thành Ý niệm Man Nương - Phật Mẫu, thực sự là cái
được biểu đạt siêu việt, là trung tâm của cấu trúc Tứ Pháp? Rất đơn giản, ngay
từ đầu, tích truyện đã để cho các cặp Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi - Pháp Điện
vắng mặt các hình tượng (εἶδος - eidos) nhân hình. Ngay
từ đầu họ đã có nguồn gốc tự nhiên - họ được làm nên từ cây dung thụ. Nhưng để
chuyển hóa một cây dung thụ với hình tượng cụ thể là cây thành một cây dung thụ
trở thành ý niệm tuyệt đối là các Phật Mây, Phật Mưa, Phật Sấm, Phật Sét nhân
hình, thì người ta đã phải viện đến cái được biểu đạt siêu việt Phật Mẫu Man
Nương. Phật Mẫu đã hóa thân một phần thành hình tượng hài nhi lồng vào cây dung
thụ để dung thụ mang một nghĩa kép: nhân hóa vì là con của Man Nương, và thiêng
hóa vì là con của Phật Mẫu. Hai quá trình đó cũng chính là hai quá trình chuyển
tải nghĩa kép: quá trình nhân hóa đã vĩnh viễn làm vắng mặt tuyệt đối cái tự
nhiên của cây dung thụ; và quá trình thiêng hóa đã vĩnh viễn làm hiện diện
tuyệt đối ý niệm về quyền lực Phật cho các cặp Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện nhân hình được thờ trong chùa. Và đến đây, Ý niệm Phật Mẫu Man Nương
đã thực sự khẳng định được vai trò cái được biểu đạt siêu việt của mình.
Lời kết
Với hình tượng Man Nương, quá
trình vắng mặt/ hiện diện kép liên tục diễn ra cho đến khi cô gái quê mùa Man
Nương đã trở thành Phật Mẫu, và Phật Mẫu Man Nương đã được đồng nhất với Phật
Mẫu Chuẩn Đề và/ hoặc Quán Thế Âm Bồ Tát. Giờ đây hình tượng (εἶδος - eidos) Man Nương với tư cách là người con gái
quê mùa làng Mãn Xá đã vĩnh viễn chỉ còn là một dấu vết (trace) mờ nhạt, hay
nói cách khác là đã tuyệt đối vắng mặt trong tâm thức Việt, để nhường chỗ cho
sự hiện diện tuyệt đối của ý niệm về một Phật Mẫu Chuẩn Đề cứu nhân độ thế. Và
đối với giải cấu trúc của Derrida, một ngày nào đó, khi Bồ Tát nguyện đã thành
tựu thì cả Man Nương, Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng sẽ
chỉ còn là một dấu vết mờ nhạt, hay nói cách khác là sẽ tuyệt đối vắng mặt
trong tâm thức nhân loại.
__________________________________
** Trong bản đầu tiên, tôi [Hà
Hữu Nga] đã nhầm Tô Tất Đế là Tô Tần Đà, nay xin được sửa lại cho chính xác, Tô
Tất Đế chính là Bồ tát Tô Tất Địa [Đế] Yết La (Susiddhikara - 蘇悉地[帝]羯羅).
Tài liệu tham khảo
Derrida, Jacques 1967a. La
structure, le signe et le jeu dans le discours des sciences humaines.
Derrida J. Ecriture et la Differance. Paris: "Seul", 1967. P.:
409-429.
Derrida, Jacques 1967b. Of Grammatology. Baltimore: John Hopkins University Press.
Dhand, Arti 2002. The Dharma of Ethics,
the Ethics of Dharma: Quizzing the Ideals of Hinduism. Journal of Religious
Ethics 30 (3): 351.
Horsch, Paul 2004. From Creation Myth to
World Law: the Early History of Dharma, Journal of Indian Philosophy,
December 2004, Volume 32, Issue 5-6, pp 423-448
Kalupahana, Davis 1986. The Philosophy
of the Middle Way. Suny Press, 1986, pages 15–16.
Lévi-Strauss, Claude 1958. Anthropologie
structurale. Paris, Plon, Agora, 1958.
Nguyễn Quang Hồng (chủ biên)
1997. Di văn chùa Dâu. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Phật giáo Việt Nam 1999. Phật Quang Từ
điển. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn, Đài Bắc xuất bản.
Saussure Fernand de, 1967. Cours de linguistique générale. Collection
Bibliothèque Scientifique. Payot, Paris.
Wezler, Albrecht 2004. Dharma in the
Veda and the Dharmaśāstras, Journal of Indian Philosophy, December 2004,
Volume 32, Issue 5-6, pp 629-654.