image banner
VI | EN
GÓP PHẦN XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI KHU DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC ÓC EO - BA THÊ QUA CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỚI

1. G iới thiệu

Trong ba năm 2017 - 2020, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã khai quật và nghiên cứu khảo cổ học tại các địa điểm Gò Sáu Thuận, Gò Út Trạnh, Gò Giồng Cát và Lung Lớn (thuộc khu di tích Óc Eo - Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) 1 . Kết quả khai quật ở sườn núi Ba Thê, tại di tích Gò Sáu Thuận đã làm xuất lộ hệ thống kiến trúc tôn giáo xây bằng gạch - đá, với chức năng của một khu cổng và con đường hành lễ dẫn lên kiến trúc chính nằm ở khu vực chùa Linh Sơn. Ở Gò Út Trạnh đã xuất lộ bình diện tổng thể của một nhóm ba kiến trúc tôn giáo, xây dựng thẳng hàng theo trục Bắc - Nam, khả năng là đền thờ ba vị thần tối cao trong Hindu giáo: Brahma, Visnu và Shiva. Trên khu vực cánh đồng Óc Eo, các hố khai quật ở Gò Giồng Cát đã làm xuất lộ các kiến trúc dạng đền thờ, được xây dựng bằng đá cùng các công trình liên quan như giếng nước (với hai dạng thức vuông và tròn) cùng hệ thống các nền đất đắp và kết cấu cột gỗ khả năng liên quan đến các kiến trúc nhà ở của những người có địa vị cao trong đô thị cổ Óc Eo thời bấy giờ. Tại Lung Lớn cho thấy tính chất của một tuyến giao thông thủy huyết mạch trong thương mại hàng hải thời cổ đại đồng thời là nơi cư trú của cư dân cổ Óc Eo - Ba Thê.

Tuổi của những di tích khảo cổ nói trên trong các báo cáo khai quật chỉ mới được xác định với niên đại tương đối qua phương pháp nghiên cứu so sánh các tổ hợp hiện vật liên quan tìm thấy trong tầng văn hóa. Khung niên đại xác định vào khoảng thế kỷ I - VII cho các di tích ở cánh đồng Óc Eo như Gò Giồng Cát và Lung Lớn. Các di tích trên sườn núi Ba Thê được ước định niên đại khoảng thế kỷ I - VI cho lớp di tích cư trú và thế kỷ VI - XI cho lớp kiến trúc tôn giáo ở Gò Sáu Thuận, khoảng thế kỷ VI - VII cho nhóm kiến trúc Gò Út Trạnh.

Trong quá trình khai quật từ năm 2017 - 2020, có nhiều mẫu than, gỗ trong tầng văn hóa hay từ các kết cấu gỗ xây dựng kiến trúc được thu thập để phân tích niên đại bằng phương pháp carbon phóng xạ ( 14 C), góp phần mang lại những tư liệu khách quan và có độ tin cậy cao hơn để định tuổi cho các di tích này. Có 30 mẫu than/mẫu gỗ được thu thập tại ba di tích Gò Sáu Thuận, Gò Giồng Cát (khu A) và Lung Lớn đã được gửi phân tích tại phòng Phân tích Paleo Labo Co., Ltd (Nhật Bản) từ kinh phí khoa học của Nhật Bản tài trợ 2 .

Đối với một số di tích kiến trúc tôn giáo xây bằng gạch - đá, do các mẫu than tìm thấy trong tầng văn hóa (bên trong lòng các kiến trúc hoặc khu vực ngoại vi), rất ít hoặc không có những liên hệ trực tiếp đến kiến trúc nên độ tin cậy về niên đại không cao. Vì thế, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã phối hợp với Viện Hạt nhân Đà Lạt và Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh triển khai chương trình phân tích niên đại một số di tích kiến trúc bằng phương pháp nhiệt phát quang (Thermoluminescence Dating - TLD) kết hợp với đo liều bức xạ Gamma vũ trụ tích lũy từ môi trường để tính tuổi cho các kiến trúc gạch nơi đây.

Bài viết này giới thiệu các kết quả khai quật và phân tích niên đại tại các di tích Gò Giồng Cát, Gò Sáu Thuận và Lung Lớn bằng phương pháp carbon phóng xạ do Phòng phân tích Paleo Labo Co., Ltd (Nhật Bản) thực hiện và qua đó góp phần luận giải một số vấn đề niên đại cho khu di tích Óc Eo - Ba Thê. Do không có mẫu than để phân tích niên đại nên tại Gò Út Trạnh chỉ có thể áp dụng phương pháp xác định niên đại tương đối và nhiệt phát quang (đang thực hiện phân tích). Các kết quả phân tích niên đại kiến trúc bằng phương pháp nhiệt phát quang (TLD) sẽ được nhóm nghiên cứu công bố trong các bài viết tiếp theo.

2. Kết quả khai quật mới tại khu di tích Óc Eo - Ba Thê (2017 - 2020)

Ở khu vực sườn núi Ba Thê, công tác khai quật khảo cổ học triển khai tại Gò Sáu Thuận và Gò Út Trạnh với quy mô lớn, nhằm bổ sung các kết quả nghiên cứu trước đây, góp phần nhận diện niên đại, vai trò, tính chất và quy hoạch tổng thể của khu vực được một số nhà nghiên cứu xác định là trung tâm tôn giáo của “đô thị cổ Óc Eo”.

- Gò Sáu Thuận: được khai quật với quy mô lớn, tổng diện tích 3.508m 2 với 10 hố khai quật và 7 hố thám sát. Sau ba năm khai quật và nghiên cứu sơ bộ, kết quả cho thấy tại Gò Sáu Thuận bên dưới lớp kiến trúc là một giai đoạn cư trú trên địa hình chân núi, có niên đại tương đối được xác định vào khoảng thế kỷ II - VI 3 , với mật độ dân cư thưa thớt,. Bên trên đó là các lớp công trình kiến trúc tôn giáo bắt đầu được xây dựng từ khoảng thế kỷ VI - VII, Các kiến trúc tôn giáo giai đoạn này được xây dựng quy chuẩn, có móng đá, tường xây bằng gạch nguyên, có trang trí trên thân tường bằng kỹ thuật xây giật cấp, với bình đồ dạng hình chữ nhật, tường khép kín, không có lối ra vào. Sau đó, khu vực này được tái thiết với quy mô lớn hơn, trở thành một khu cổng và một hệ thống đường hành lễ vào khoảng thế kỷ VIII và được duy trì đến khoảng thế kỷ XI. Bên cạnh tính chất của một khu cổng, vào giai đoạn này tại Gò Sáu Thuận còn có sự thay đổi chức năng của một số kiến trúc đã xây ở giai đoạn trước bằng cách xây dựng bổ sung gá lắp một số kết cấu. Từ những dạng kiến trúc có bình đồ đơn giản hình chữ nhật ở giai đoạn trước, có sự cải tạo bằng cách xây thêm tạo kết cấu với bình đồ hình chữ “U” cùng với hệ thống các đường thoát nước bằng gạch tương tự như các phát hiện tại Linh Sơn Nam và Linh Sơn Bắc. Khả năng các kiến trúc được thay đổi công năng này liên quan đến việc thực hành các nghi lễ tôn giáo liên quan đến nước. Sau thế kỷ X, có sự suy thoái trong kỹ thuật xây dựng, các kiến trúc giai đoạn này không có nền móng vững chắc, có hiện tượng tận dụng gạch vỡ, các cấu kiện kiến trúc như khung cửa, bệ thờ bằng đá từ những phế tích nào đó ở nơi khác để tái thiết nơi này (Nguyễn Khánh Trung Kiên 2020).

Bình diện khu vực khai quật cho thấy đây là hệ thống kiến trúc có liên hệ mật thiết với ngôi đền trung tâm, được xây dựng trên sườn núi Ba Thê (hiện nằm bên dưới nền móng của ngôi chùa Linh Sơn hiện đại 4 ). Tại Gò Sáu Thuận, đã phát hiện 31 di tích thuộc các loại hình như cổng, kiến trúc dạng nhà dài, và các di tích khác như 1 con đường hành lễ, 2 tường bao, 1 giếng nước, 23 cống nước, 6 cụm ngói, 1 lò thiêu? cùng với các đoạn đường gạch, đường đá, lỗ cột, hố đất đen, cụm gốm 5 . Phần lớn các di tích này nằm trong một quy hoạch chung và có liên quan đến kiến trúc cổng và con đường hành lễ dẫn lên khu đền thờ chính ở khu vực chùa Linh Sơn.

- Gò Giồng Cát: được khai quật nhằm nhận diện không gian phân bố, xác định loại hình, tính chất và niên đại các di tích kiến trúc tôn giáo và di tích cư trú nơi đây. Công việc khai quật được tiến hành tại khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Bắc của gò (khu A) với 6 hố khai quật và 13 hố thám sát có tổng diện tích 2.819,7m 2 . Kết quả khai quật Gò Giồng Cát cho thấy nơi đây là một trung tâm quan trọng của “đô thị Óc Eo” thời bấy giờ. Với vị trí nằm sát dòng kênh cổ Lung Lớn và gần như trên vùng đất cao nhất của cánh đồng Óc Eo, nơi có nhiều kiến trúc lớn được xây bằng đá dạng đền thờ 6 .

Theo nhận định của những người khai quật cho thấy ở khu di tích Gò Giồng Cát đã hình thành quá trình cư trú với niên đại từ thế kỷ II - III và phát triển liên tục cho đến khoảng thế kỷ VI - VII. Tại đây, người dân cư trú trên nhà sàn và trên các ngôi nhà có nền đất sét đắp kết hợp khung nhà được dựng bằng hệ thống cột gỗ. Vết tích cư trú là các nền đất đắp với các dấu vết lỗ cột/cột gỗ tạo thành các kết cấu kiến trúc gỗ dựng khung nhà. Không tìm thấy ngói trong các hố khai quật nên có thể cho rằng đây là những kiến trúc gỗ sử dụng lá thực vật để lợp mái, niên đại ước định của các di tích cư trú này khoảng thế kỷ II - V. Ở giai đoạn muộn hơn, khoảng thế kỷ V - VII, tại Gò Giồng Cát được xây dựng các kiến trúc đá quy mô lớn, tiêu biểu là một đền thờ lộ thiên tại khu vực trung tâm của gò và kiến trúc K nằm ở phía đông bắc, gần kênh cổ Lung Lớn cùng với hai giếng gạch nằm về phía nam và đông nam, một giếng dạng tròn và một giếng dạng vuông (Nguyễn Hoàng Bách Linh 2019).

Kiến trúc tôn giáo nằm ở trung tâm Gò Giồng Cát có thể là một đền thờ thần Vishnu, được xây dạng lộ thiên với phần âm hình phễu đào xuyên qua mặt đất tự nhiên, trung tâm xây một trụ thiêng bằng gạch, xung quanh kè đá. Phần dương bên trên dùng đá hoa cương xếp tạo một mặt bằng tương đối 7 . Đền thờ này đã bị đào phá nghiêm trọng, hầu như không còn nhận ra được kết cấu nguyên thủy. Tuy nhiên, khi xem xét mối liên hệ giữa kiến trúc tôn giáo và kiến trúc gỗ ở phía đông và đông bắc cho thấy, có thể kiến trúc đá này được xây dựng sau, liền kề với kiến trúc gỗ và có thể một phần kết cấu đá xây đè lên trên nền đất sét đắp này. Niên đại của kiến trúc tôn giáo này có thể vào khoảng thế kỷ V - VII.

Kiến trúc K đã được L. Malleret ghi nhận và so sánh với nhóm đền tháp ở Nachua, Đông Nam Jaso (Tây Ấn), thuộc thời kỳ đầu Gupta (thế kỷ IV - V). Kiến trúc K được đoán định thuộc vào thế kỷ V - VII, muộn hơn các kiến trúc bằng gỗ. Đáng tiếc là kiến trúc này đã bị phá hủy nặng trong vài thập niên gần đây nên không thể nhận diện các đặc điểm và tính chất, ngoại trừ việc hình dung nó có cấu trúc hình hộp, được ghép từ các phiến đá granite lớn bằng kỹ thuật ghép mộng (Nguyễn Hoàng Bách Linh 2019).

Loại hình giếng xây bằng gạch (bên trên) kết hợp kết cấu gỗ (bên dưới) tại Gò Giồng Cát chưa từng được ghi nhận trong các loại hình di tích văn hóa Óc Eo trước đây. Qua nghiên cứu cho thấy giếng được xây bằng cách đào sâu xuyên qua tầng sét sinh thổ và dựng phần đáy giếng bằng gỗ, gia cố bằng các khối đá rồi xây phần thân giếng bằng gạch bên trên. Sau đó nền sét được đắp gia cố và tạo một bề mặt tương đối bằng phẳng xung quanh, có thể thuận tiện cho các hoạt động, sinh hoạt của cư dân cổ. Dù khác nhau về hình dạng và quy mô nhưng giếng gạch dạng vuông có sự gần gũi về kỹ thuật tạo dựng với giếng gạch dạng tròn qua việc sử dụng kết cấu gỗ ở phần đáy giếng, khả năng việc sử dụng gỗ vừa tăng độ chịu lực vừa có tác dụng lọc sạch nước. Qua so sánh các loại đồ gốm tìm thấy trong khu vực phát hiện giếng cho thấy niên đại khoảng từ thế kỷ IV đến VI - VII. Khả năng các giếng nước cung cấp nước sạch phục vụ việc thực hành nghi lễ tôn giáo tại các đền thờ gần đó 8 .

Phát hiện đặc biệt tại Gò Giồng Cát là sự xuất hiện của một hệ thống gồm 5 hàng cột gỗ/ lỗ cột phân bố theo chiều đông - tây (dài 7,26m, rộng 6,3m) với khoảng cách giữa các cột cách đều theo quy luật. Cột gỗ thuộc kết cấu này có đường kính khá lớn (18 - 25cm), có dấu vết gia công ở bề mặt và đa số đều được tạo ngoàm để xuyên một thanh gỗ chêm ở chân cột để gia cố và tăng khả năng chịu lực cho bộ khung kiến trúc. Đây là phần còn lại của một kiến trúc bằng gỗ được xây dựng trên nền đất đắp, có thể là nhà ở của nhóm cư dân địa vị cao. Điều này được củng cố thêm khi các nhà khảo cổ tìm thấy gần đó những vật phẩm quý hiếm như gương đồng thời Đông Hán 9 , nhẫn vàng đúc hình bò Nandin 10 .

Những kết quả khai quật đã làm xuất lộ giếng tròn và giếng vuông là những loại hình di tích độc đáo đồng thời đã cho thấy kỹ thuật xây dựng tiên tiến thời bấy giờ khi kết hợp nhiều loại vật liệu xây dựng khác nhau như gỗ, đá và gạch để tạo nên những công trình chắc chắn trên nền đất yếu (sử dụng móng gỗ để chống lún) nhưng đồng thời cũng giải quyết tốt về mặt công năng (lọc sạch nước bằng chính kết cấu gỗ). Các giếng nước này đặt ra một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới. Chúng là nguồn cấp nước cho sinh hoạt thường nhật của người dân hay được dùng trong các hoạt động tế lễ nơi các kiến trúc đền thờ bằng đá gần đó?

Trong thư tịch cổ cho thấy cư dân Phù Nam sử dụng nước từ các ao hồ trong làng, họ không có hình thức đào giếng để lấy nước sinh hoạt. Các phát hiện giếng nước ở Gò Giồng Cát cho thấy bên cạnh khả năng dùng cho nghi lễ tôn giáo, các giếng này còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho những tầng lớp địa vị cao hay giới tăng lữ (?) sinh sống tại đó.

- Dòng kênh cổ Lung Lớn: được tiến hành khai quật tại khu A (gần gò Óc Eo) và khu B (gần Gò Giồng Cát) với 14 hố khai quật và 5 hố thám sát được mở với tổng diện tích 1.041m 2 . Việc lựa chọn điểm khai quật tại hai đầu kênh cổ Lung Lớn nhằm nghiên cứu và so sánh sự khác biệt (nếu có) giữa các phân khu bên trong “đô thị cổ” Óc Eo, qua đó nhận diện tính chất, vai trò của thủy lộ này. Tại khu A có 8 hố khai quật, với tổng diện tích 464m 2 được mở tại các vị trí ven bờ và cắt ngang lòng kênh cổ để nghiên cứu các đặc điểm dòng chảy và tính chất cư trú nơi đây cũng như mối liên hệ với di tích Gò Óc Eo gần đó. Ở khu B có 5 hố thám sát và 6 hố khai quật được mở với tổng diện tích 577m 2 tại các khu vực ven bờ kênh và các tuyến cắt ngang lòng kênh.

Theo kết quả khai quật tại Lung Lớn, 145 di tích tìm thấy trong các tầng văn hóa sớm - muộn , trong tầng xáo trộn do san lấp thời hiện đại 30 di tích, trong tầng văn hóa Óc Eo giai đoạn thế kỷ V - VII có 28 di tích và 77 di tích thuộc tầng văn hóa Óc Eo sớm có niên đại vào khoảng thế kỷ II - IV. Các di tích trong tầng văn hóa Óc Eo thế kỷ II - IV thường là những di tích c ột gỗ và c ột chôn, l à dấu vết còn lại của nhà sàn được dựng hai bên bờ kênh. Vết tích sinh hoạt của cư dân cổ để lại như những bãi gốm, tàn tích thực vật, động vật. Các cột gỗ chủ yếu tập trung tại khu vực Lung Lớn B, với gần 70 cột gỗ cột chôn nằm ngay trên bề mặt sinh thổ hoặc cắm sâu xuống sinh thổ. Một số di tích tiêu biểu như hàng cột chôn trong hố H3 và H4, được ghi nhận với 33 cột gỗ được đóng xiên hướng ra lòng kênh, nằm dọc theo hướng b ắc - nam của khu vực triền dốc từ bờ lung xuống đến mép nước, cách đều theo một trục khá thẳng, khoảng cách trung bình giữa các cọc gỗ này là 1,5m. Có thể đây là hàng cột được sử dụng làm cột neo thuyền hoặc là một hàng cột kè chống sạt lở bờ kênh. Một di tích khác quan trong chính là những cột gỗ trong hố H3, nằm ngay ranh giới giữa bờ kênh và lòng kênh, ở độ sâu 1,2m, gồm 5 thanh gỗ lớn, đường kính trung bình khoảng 15cm; thanh dài nhất khoảng 2m, các thanh còn lại dài 1,3 - 1,5m nằm ngang, bị đổ sập xuống. Xung quanh là rất nhiều những thanh gỗ nhỏ, có đường kính khoảng 5cm; dài khoảng 1m nằm chồng lên nhau, xen lẫn với các thanh gỗ lớn. Trong nhóm những thanh gỗ lớn, có 2 thanh có chốt ở hai đầu, 1 thanh gỗ có lỗ mộng, thể cùng một bộ, những thanh còn lại đều có một đầu vát nhọn. Rất nhiều thanh gỗ nhỏ nằm vương vãi trên bình diện khai quật. Đây là một phần cấu kiện nhà sàn bị sụp đổ từ trên xuống. Qua hiện trường khai quật cho thấy quy mô nhà sàn này không lớn (Nguyễn Khánh Trung Kiên và nnk 2022).

Trong khi đó, di tích tìm thấy trong tầng văn hóa Óc Eo giai đoạn thế kỷ V - VII đa phần là các vết tích cư trú như cụm gốm xuất lộ chủ yếu tại khu vực hố khai quật H4, H5, H6 và H7 của khu vực Lung Lớn A. Các cụm gốm nằm trong nền đất pha cát kết cứng bên trong tập trung đủ loại hình gốm chất liệu khác nhau như sét pha cát, sét pha bã thực vật, sét mịn, cùng với các vết tích như xương động vật, cọc gỗ... cho thấy dấu vết sinh hoạt hàng ngày rất rõ nét, khả năng đây là khu vực cư trú ven bờ kênh.

Theo một số nghiên cứu địa chất học đã chỉ ra rằng, lòng kênh Lung Lớn ở độ sâu -246cm so với mặt đất hiện tại, bị bồi lấp và cạn dòng cách nay khoảng 14 thế kỷ (Lê Xuân Thuyên 2005). Thông qua các hố khai quật ở Lung Lớn A và Lung Lớn B cho thấy dòng kênh này có độ sâu trong khoảng từ 1,5 - 2,0m so với bề mặt đất hiện tại. Độ rộng lòng kênh hiện nay chưa thể xác định được một cách chính xác qua kết quả khai quật khảo cổ do chưa đủ điều kiện mở hố cắt ngang qua dòng kênh này. Tuy nhiên, kết hợp phát hiện khảo cổ cùng với kết quả khảo sát nghiên cứu địa vật lý ở khu vực Lung Lớn cho thấy độ rộng của kênh dao động từ khoảng 30 - 45m. Tại khu vực Lung Lớn B, các hố khai quật đã làm lộ ra được bờ phía tây của dòng kênh cổ này với độ dốc khá lớn, khoảng 45 0 , nhưng lòng kênh này không sâu mà tương đối bằng phẳng (Lê Hoàng Phong, Lâm Kiêm Lợi 2020).

Qua các di vật tìm thấy trong đáy kênh như các loại hình mái chèo, sào chống thuyền cùng các hàng “cột neo thuyền” ven bờ kênh đã cho thấy chức năng chính của dòng kênh cổ Lung Lớn là một tuyến giao thông thủy kết nối nội địa và thế giới bên ngoài trong hoạt động thương mại hàng hải quốc tế thời cổ đại. Ngoài ra, dấu vết cột nhà sàn tại khu vực sát bờ kênh cùng với những cụm gốm sinh hoạt, những tàn tích hữu cơ và xương động vật, nằm lẫn lộn trong tầng văn hóa là những minh chứng rõ nét cho quá trình cư trú ven hai bờ kênh 11 .

3. Mẫu phân tích và kết quả niên đại AMS

Sau khi kết thúc khai quật và chỉnh lý sơ bộ, các di tích nói trên chỉ mới được xác định niên đại tương đối như trong nội dung phần trước đã đề cập. Để có thêm tư liệu xác thực cho vấn đề niên đại của các di tích / di vật, có 30 mẫu than/mẫu gỗ được lựa chọn phân tích carbon phóng xạ để có cơ sở khoa học vững chắc hơn (Bảng 1) . Các mẫu được thu thập tại ba địa điểm Gò Sáu Thuận, Gò Giồng Cát và Lung Lớn. Riêng tại Gò Út Trạnh, do không tìm thấy các thành phần hữu cơ để có thể phân tích niên đại nên không thể áp dụng phương pháp carbon phóng xạ mà chỉ có thể ứng dụng phương pháp nhiệt phát quang (TL) để nghiên cứu niên đại các kết cấu gạch và sẽ công bố trong một bài viết khác sau khi hoàn chỉnh kết quả phân tích và nghiên cứu.

Tại Gò Sáu Thuận, có 7 mẫu than được thu thập trong tầng văn hóa tại nhiều vị trí trong khu vực cư trú và liên quan đến các kiến trúc để phân tích niên đại . Các mẫu trong hai hố khai quật H5 và H6 được phân tích để xác định niên đại sớm nhất của quá trình cư trú ở khu vực này và kết hợp với niên đại tương đối từ đồ gốm và các hiện vật khảo cổ nhằm nhận diện thời gian cư trú. Tại các kiến trúc, các mẫu được thu thập với mục đích nhận diện các giai đoạn sớm muộn, vốn đã được xác định tương đối qua so sánh đối chiếu hệ trục quy hoạch và các đặc điểm xây dựng cũng như các di vật liên quan trong tầng văn hóa. Các mẫu lấy tại các vị trí như sau:

- Mẫu ký hiệu BT18.GST.H5.L6.F24.C1: là mẫu than tìm thấy trong lớp đất sét ngay trên bề mặt sinh thổ. Mẫu này giúp xác định thời điểm bắt đầu việc cư trú ở khu vực Gò Sáu Thuận trước khi bắt đầu xây dựng các kiến trúc tôn giáo nơi đây. Niên đại 14 C của mẫu là 1875±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 123 - 229 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu BT18.GST.H5.L3.5.B1.F22: là mẫu than thu được trong lớp đất sét đắp, trong hố khai quật H5, để nghiên cứu niên đại của giai đoạn cư trú trước khi diễn ra việc xây dựng các kiến trúc tôn giáo. Niên đại 14 C của mẫu là 1845±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 129 - 241 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu BT18.GST.H6.C2.L5.4: là mẫu than trong mảng đất sét đen xám (thuộc lớp sét vàng), thuộc hố khai quật H6 để nghiên cứu giai đoạn sớm của quá trình cư trú trước khi xây dựng kiến trúc tại khu vực Gò Sáu Thuận. Niên đại 14 C của mẫu là 1845±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 129 - 240 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu BT19.GST.H10L10.b1: là mẫu than thu được trong lớp đất lấp bên trên bề mặt giếng vuông (lớp đất màu đen) trong hố khai quật H10, để xác định niên đại khi giếng này bị vùi lấp, bỏ hoang phế và các di tích kiến trúc giai đoạn muộn được bắt đầu xây dựng. Niên đại 14 C của mẫu than là 1425±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 602 - 653 cal . AD (95,45%), đầu thế kỷ VII đến nửa sau thế kỷ VII.

- Mẫu ký hiệu BT17.GST.H1L8: mẫu than nằm dưới lớp đất nung trong lòng lò nung/lò thiêu (?) ở phía Bắc hố khai quật H1. Niên đại 14 C của mẫu là 1325±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 655 - 689 cal . AD (56,34%), nửa đầu thế kỷ VII đến nửa sau thế kỷ VII.

- Mẫu ký hiệu BT17.GST.H3.L5: là mẫu than thu được trong lớp đất đắp ở khu vực hố khai quật H3, nơi con đường hành lễ xây bằng gạch - đá. Niên đại 14 C của mẫu là 1110±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 892 - 992 cal . AD (95,45%), nửa sau thế kỷ IX đến nửa sau thế kỷ X.

- Mẫu ký hiệu BT17.GST.H1L4: mẫu than thu được bên dưới lớp ngói trong tình trạng bị sụp đổ và giữ nguyên trạng với các lớp ngói lợp chồng lên nhau ở hố khai quật H1. Mẫu này để nhận diện niên đại của giai đoạn muộn khi các kết cấu mái che tạm bằng ngói sụp đổ, trước khi khu kiến trúc bị bỏ hoang phế. Kết quả niên đại 14 C của mẫu là 1095±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 940 - 994 cal . AD (57,26%), nửa đầu thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ X.

Tại Gò Giồng Cát (khu A), có 9 mẫu than/mẫu gỗ thu được trong tầng văn hóa trong các di tích, gồm 03 mẫu tại giếng tròn, 02 mẫu tại giếng vuông, 03 mẫu tại các kết cấu cột chôn của kiến trúc dạng nhà và 01 mẫu trong lớp đất đắp trong tầng văn hóa. Dưới đây là chi tiết các kết quả phân tích:

- Mẫu ký hiệu OE18.GGC.A.H1.MG02: mẫu gỗ là thanh nêm, chân móng cột gỗ của một kiến trúc xây bằng gỗ tại hố HKT1. Mẫu này nhằm xác định niên đại của kiến trúc gỗ ở hố khai quật H1. Niên đại 14 C của mẫu là 1865±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 125 - 231 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE18.GGC.A.H1.MG04: mẫu gỗ là thanh nêm, chân móng cột gỗ của một kiến trúc gỗ tại hố HKT2. Mẫu này nhằm xác định niên đại của kiến trúc gỗ ở hố khai quật H1. Niên đại 14 C của mẫu là 1865±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 126 - 231 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE18.GGC.A.H1.MG05: mẫu gỗ ở chân cột gỗ thuộc một kiến trúc gỗ tại hố HKT7. Mẫu này để xác định niên đại của kiến trúc gỗ trong hố khai quật H1. Niên đại của mẫu là 1865±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 126 - 231 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H3.MG02: mẫu gỗ, thu thập tại một thanh gỗ ở góc đông nam của kết cấu gỗ hình vuông, thuộc lớp dưới của giếng tròn xây bằng gạch trong hố khai quật H3. Mẫu này góp phần xác định niên đại xây dựng giếng. Niên đại 14 C của mẫu là 1620±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 412 - 481 cal . AD (57,24%), nửa đầu thế kỷ V đến nửa sau thế kỷ V.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H3.MG03: mẫu gỗ thu thập từ một thanh gỗ nơi góc đông bắc kết cấu gỗ hình vuông, thuộc lớp dưới của giếng tròn xây bằng gạch trong hố khai quật H3. Niên đại 14 C của mẫu là 1625±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 408 - 444 cal . AD (37,68%), thuộc nửa đầu thế kỷ V.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H3.MG04: mẫu gỗ, thu thập tại một thanh gỗ ở vách bắc kết cấu gỗ vuông, lớp dưới của giếng tròn xây bằng gạch ở hố khai quật H3. Niên đại 14 C của mẫu là 1560±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 473 - 522 cal . AD (36,61%), nửa sau thế kỷ V đến nửa đầu thế kỷ VI.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H4VĐ.MG01: mẫu gỗ thu từ một thanh gỗ nằm ngang, thuộc vách đông của giếng vuông xây bằng gạch - gỗ ở hố khai quật H4. Mẫu này để xác định niên đại của giếng, thông qua kết cấu gỗ bên dưới. Niên đại 14 C của mẫu là 1700±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 336 - 413 cal . AD (79,23%), nửa đầu thế kỷ IV đến nửa đầu thế kỷ V.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H4VT.MG05: mẫu gỗ thuộc một thanh gỗ cắm đứng, ở vách tây của giếng vuông xây bằng gạch - gỗ ở hố khai quật H4. Mẫu này để xác định niên đại của giếng, qua kết cấu gỗ bên dưới. Niên đại 14 C của mẫu là 1735±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 309 - 403 cal . AD (60,76%), đầu thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V.

- Mẫu ký hiệu OE19.GGC.A.H5L7.M1: mẫu than thu thập bên trên lớp đất sét đắp trong hố khai quật H5. Mẫu này để xác định niên đại của lớp đất gia cố trước khi xây dựng các kiến trúc bằng đá (kiến trúc K). Niên đại 14 C của mẫu là 1600±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 422 - 538 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ V đến nửa đầu thế kỷ VI.

Tại Lung Lớn, có 14 mẫu than/mẫu gỗ được thu thập trong các lớp sớm nhất, tương ứng với đáy kênh ; từ các cột gỗ liên quan đến nhà sàn; và từ các dụng cụ sinh hoạt bằng gỗ (mái chèo, sào chống, dụng cụ). Các mẫu phân tích AMS này cùng với các hiện vật khảo cổ tìm thấy trong tầng văn hóa góp phần mang lại những nhận thức có cơ sở vững chắc hơn cho việc định tuổi di tích và giai đoạn vận hành của dòng kênh này như một tuyến giao thông thủy.

- Mẫu ký hiệu OE18.LLO.H2c3.L5.1: là mẫu than ở lớp sớm nhất, tương ứng giai đoạn thành tạo nền đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, được thu thập trong hố khai quật H2 (khu A). Niên đại 14 C của mẫu là 6965±25 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 5911 - 5751 cal . BC (91,08%), khoảng 6.000 đến 5.700 năm trước Công nguyên.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H5e6.L3.11: mẫu than tìm thấy ở bề mặt sinh thổ, nằm ở đáy dòng kênh (thuộc giai đoạn sớm) ở khu B. Mẫu này để đánh giá niên đại sớm của dòng kênh khi nó được vận hành như một tuyến giao thông đường thủy. Niên đại 14 C của mẫu là 1845±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 129 - 239 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE18.LLO.B.H1e4.L3.10: là mẫu than thuộc giai đoạn hoạt động đầu tiên của Lung Lớn, được thu thập trong lớp sớm của hố khai quật H1 (khu B). Niên đại 14 C của mẫu là 1810±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 207 - 256 cal . AD (64,52%), đầu thế kỷ III đến nửa sau thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE18.LLO.H4e3.L3.3: là mẫu than nằm trong lớp cư trú, thu thập trong tầng văn hóa hố khai quật H4 (khu A), để nghiên cứu niên đại giai đoạn cư trú ven bờ Lung Lớn khu vực này. Niên đại 14 C của mẫu là 1580±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 428 - 548 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ IV đến nửa đầu thế kỷ VI.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.A.H7.ST.M01: là mẫu gỗ thu được từ một cọc gỗ ven bờ Lung Lớn (khu A). Mẫu này để xác định niên đại của quá trình cư trú trên nhà sàn ven bờ kênh. Niên đại 14 C của mẫu là 1820±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 201 - 255 cal . AD (73,68%), nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.A.H7.ST.M02: mẫu gỗ thu được từ một cọc gỗ ven bờ Lung Lớn (khu A), thuộc hố khai quật H7. Mẫu này để xác định niên đại của quá trình cư trú trên nhà sàn ven bờ kênh. Niên đại 14 C của mẫu là 1790±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 279 - 332 cal . AD (61,37%), nửa sau thế kỷ III đến nửa đầu thế kỷ IV.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.A.H7.ST.M05: mẫu gỗ thu được từ một cọc gỗ ven bờ Lung Lớn (khu A), thuộc hố khai quật H7. Niên đại 14 C của mẫu là 1875±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 121 - 229 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H3.F18.M05: mẫu gỗ thu được từ một cọc gỗ ven Lung Lớn (khu B), trong hố khai quật H3, được phân tích để xác định niên đại của quá trình cư trú. Niên đại 14 C của mẫu là 1850±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 129 - 238 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H3.F19.M08: mẫu gỗ từ một cột gỗ thuộc kết cấu kiến trúc dạng “nhà sàn” bị sụp đổ nằm ở đáy Lung Lớn (khu B) trong hố khai quật H3, được phân tích để xác định niên đại của quá trình cư trú. Niên đại 14 C của mẫu là 1945±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 11 - 129 cal . AD (94,08%), đầu thế kỷ I đến nửa đầu thế kỷ II.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H3.ST.M10: mẫu gỗ từ một cột gỗ thuộc kết cấu kiến trúc dạng nhà sàn bị sụp đổ nằm ở đáy Lung Lớn (khu B) trong hố khai quật H3. Niên đại 14 C của mẫu là 1960±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 8 - 122 cal . AD (94,46%), đầu thế kỷ I đến nửa đầu thế kỷ II.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H3m3.L2.M14: là mẫu gỗ từ một chiếc mái chèo hình lá nhọn, chìm ở đáy kênh Lung Lớn (khu B), thu thập trong hố khai quật H3. Mẫu này góp phần xác định niên đại của mái chèo và thời điểm nó bị chìm xuống đáy kênh. Niên đại 14 C của mẫu là 1880±20 năm BP, hiệu chỉnh tương ứng năm 120 - 226 cal . AD (91,41%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H5c2.L3.8.M16: là mẫu gỗ từ đầu sào chống thuyền bằng gỗ, bị chìm ở đáy kênh Lung Lớn (khu B). Mẫu này góp phần xác định niên đại của sào chống thuyền và thời điểm nó bị chìm ở đáy kênh. Niên đại 14 C của mẫu là 1770±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 276 - 345 cal . AD (73,33%), nửa sau thế kỷ III đến nửa đầu thế kỷ IV.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.A.H7.ST.M07: mẫu gỗ từ một thanh gỗ có vết chế tác, tìm thấy trong hố khai quật H7 (khu A), được phân tích để xác định niên đại của mẫu gỗ và quá trình cư trú tại khu vực tìm thấy hiện vật. Niên đại 14 C của mẫu là 1875±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 123 - 228 cal . AD (95,45%), nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III.

- Mẫu ký hiệu OE19.LLO.B.H3.ST.M01: mẫu gỗ thu được từ một thanh gỗ có vết chế tác, tìm thấy trong hố khai quật H3 (khu B), được phân tích để xác định niên đại của mẫu gỗ và quá trình cư trú tại khu vực tìm thấy hiện vật. Niên đại 14 C của mẫu là 1725±20 năm BP, sau khi hiệu chỉnh tương ứng năm 318 - 405 cal . AD (64,92%), nửa đầu thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V.

4. Một số nhận thức về niên đại di tích qua kết quả khai quật và phân tích niên đại

Trước đây, các kết quả xác định niên đại cho khu di tích Óc Eo - Ba Thê phần lớn dựa trên các nghiên cứu so sánh tổ hợp hiện vật khảo cổ nên khung niên đại cho các di tích/di vật chỉ mang tính tương đối, với biên độ khá rộng, chênh lệch vài thế kỷ. Trong chương trình hợp tác Việt - Pháp (giai đoạn 1997 - 2002), một số di tích đã được phân tích niên đại bằng phương pháp 14 C, góp phần mang lại những nhận thức có cơ sở hơn cho việc định tuổi đối với các di tích như Gò Óc Eo, Lung Lớn, Gò Cây Me (Gò Sáu Thuận), Linh Sơn Nam. Liên quan đến những di tích đề cập trong bài viết này, có thể rút ra một số kết quả phân tích mẫu 14 C liên quan như tại Lung Lớn (ở đoạn kênh nằm giữa kiến trúc K và Gò Giồng Trôm) có 2 mẫu phân tích niên đại được lấy từ 2 cột gỗ ở khu vực này. Kết quả phân tích niên đại lần lượt là 1650 ± 50 năm BP (năm 250 - 540 cal . AD) và 1600 ± 50 năm BP (năm 340 - 600 cal . AD). Ngoài ra, một chiếc mái chèo tìm thấy trong hố khai quật Lung Lớn năm 2002 cũng được xác định niên đại bằng phương pháp 14 C cho kết quả 1780 ± 50 năm BP (năm 210 - 340 cal . AD), từ đó nhóm nghiên cứu đã xác định chức năng của Lung Lớn chính là một đường giao thông thủy có niên đại khoảng giữa thế kỷ III đến cuối thế kỷ VI (Manguin P.Y. 2002).

Tại Gò Sáu Thuận qua kết quả phân tích mẫu tại các hố khai quật H5 và H6 cho thấy giai đoạn cư trú khoảng nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III; giếng vuông (trong hố khai quật H10) khả năng có niên đại khoảng cuối thế kỷ VI do niên đại mẫu than trong lớp đất bồi lấp lên trên mặt giếng khi nó bị lấp đầy và bỏ hoang có niên đại khoảng đầu thế kỷ VII (năm 602 - 653 AD), di tích “lò thiêu” trong khu vực phía Bắc hố khai quật H1 có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ VII đến nửa sau thế kỷ VII (diễn ra trước khi các kiến trúc dạng cổng được xây dựng nơi đây), con đường hành lễ có niên đại khoảng nửa sau thế kỷ IX đến nửa sau thế kỷ X, giai đoạn muộn nhất được ghi nhận với mẫu than nằm dưới lớp ngói tại hố khai quật H1 cho niên đại nửa đầu thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ X (Hình 1) .

Việc phân tích niên đại AMS các di tích khai quật năm 2017 - 2020 tại Gò Giồng Cát cho thấy: niên đại giếng tròn khoảng nửa đầu thế kỷ IV đến nửa đầu thế kỷ VI; niên đại giếng vuông khoảng nửa đầu thế kỷ IV đến nửa đầu thế kỷ V; các kết cấu cột nhà cho niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ II đến nửa đầu thế kỷ III (Hình 2) .

Các kết quả phân tích mới tại Lung Lớn cũng cho thấy ở độ sâu khoảng 5m so với bề mặt hiện tại là đáy biển cổ khi đồng bằng sông Cửu Long còn chìm ngập trong nước biển, với niên đại khoảng 6.000 năm trước Công nguyên. Niên đại các mẫu than trong lớp sớm nơi đáy kênh cổ Lung Lớn cho thấy sinh hoạt của cư dân thời bấy giờ diễn ra chủ yếu vào khoảng thế kỷ I đến thế kỷ IV (qua phân tích các mẫu than lắng đọng trong tầng văn hóa ngay trên sinh thổ và các cột gỗ nhà sàn hoặc các “hàng cột neo thuyền”). Dấu vết cư trú muộn nhất khoảng thế kỷ IV đến nửa đầu thế kỷ VI qua các mẫu than trong tầng văn hóa di tích cư trú (Hình 3) . Giai đoạn dòng kênh Lung Lớn được sử dụng như một tuyến giao thông thủy trong thương mại hàng hải diễn ra khoảng thế kỷ II - III qua kết quả phân tích niên đại của các loại mái chèo, những chiếc sào chống xuồng cùng với các hiện vật khảo cổ chỉ thị niên đại.

Như vậy, qua các mẫu phân tích niên đại bằng phương pháp AMS cho thấy ở khu vực cánh đồng Óc Eo giữa các di tích khu vực Gò Giồng Cát và Lung Lớn có những liên hệ về niên đại khá rõ, thể hiện qua các mẫu phân tích và qua các hiện vật khảo cổ mang tính chất chỉ thị niên đại (đồ gốm ngoại nhập, gương đồng, gốm Ấn Độ, gốm kiểu Hán, đồ trang sức La Mã). Quá trình cư trú trên nhà sàn ven bờ dòng kênh Lung Lớn bắt đầu từ khoảng thế kỷ I - II và kéo dài cho đến khoảng thế kỷ VI. Trong khi đó, ở khu vực Gò Giồng Cát cạnh đó, vết tích của các “ngôi nhà” với nền đất sét đắp cùng hệ thống cột chôn với móng bè mang tính quy chuẩn cao cũng được ghi nhận với niên đại khoảng thế kỷ II - III. Các hiện vật khảo cổ chìm trong lòng kênh cổ Lung Lớn cho thấy chúng có niên đại khoảng thế kỷ II - IV như mái chèo, sào chống thuyền, các loại đồ gốm ngoại nhập nguồn gốc Ấn Độ, Trung Quốc và đồ trang sức thủy tinh bọc vàng của La Mã, tiền Ngũ Thù hay những gương đồng thời Đông Hán, niên đại thế kỷ I – II, nhẫn vàng có hình bò Nandin niên đại khoảng thế kỷ V ở Gò Giồng Cát (Bùi Minh Trí và nnk 2022). Tại khu vực sườn núi Ba Thê, các kết quả phân tích niên đại tại Gò Sáu Thuận cũng cho thấy phù hợp với những niên đại tương đối qua so sánh tổ hợp di vật trong các công bố trước đây.

Như vậy, qua kết quả phân tích niên đại bằng phương pháp khoa học tự nhiên và các nghiên cứu so sánh trên những hiện vật đặc biệt đã cho thấy ở khu vực Gò Giồng Cát - Lung Lớn vào khoảng thế kỷ I - IV là nơi cư trú của cư dân trong đô thị cổ Óc Eo. Tại đây đã diễn ra các hoạt động giao thương với nhiều nhóm cư dân khác nhau, thể hiện qua các loại mái chèo tìm thấy trong lòng kênh Lung Lớn cũng như các loại sản phẩm có nguồn gốc đa dạng, từ nhiều nơi trên thế giới thời bấy giờ. Một số vật phẩm cao cấp cùng với kết cấu nhà với khung cột gỗ móng bè gợi hướng khả năng bên cạnh khu cư trú ven bờ kênh Lung Lớn của tầng lớp bình dân còn có một khu vực cho cư dân địa vị cao trên các gò đất cao như Gò Giồng Cát.

5. Kết luận

Qua kết quả phân tích 30 mẫu bằng phương pháp AMS, niên đại của các di tích khảo cổ tại Óc Eo - Ba Thê được nhận diện rõ nét hơn. Các kết quả phân tích niên đại này khá tương thích với các niên đại tương đối đã công bố trước đây. Những kết quả niên đại này cùng với các nghiên cứu so sánh di tích - di vật cũng góp phần xác lập diễn tiến của quá trình cư trú, xây dựng kiến trúc tôn giáo dựa trên các căn cứ khoa học nên khả tín hơn.

Diễn biến trong tầng văn hóa và kết quả phân tích niên đại cho thấy ở khu vực cánh đồng Óc Eo, khoảng thế kỷ I - II bắt đầu có sự cư trú của cư dân cổ, họ dựng nhà sàn sinh sống ven bờ kênh cổ Lung Lớn (khi ấy nó có thể là một dòng chảy tự nhiên). Quá trình cư trú nơi đây đã diễn ra trong suốt vài thế kỷ sau đó, những hoạt động thương mại diễn ra sôi động khoảng thế kỷ II - V thông qua các loại hiện vật trao đổi với thế giới bên ngoài qua thương mại hàng hải từ Ấn Độ, La Mã và Trung Quốc cổ đại. Trên khu vực Gò Giồng Cát kề bên bờ kênh này, khoảng thế kỷ II - IV, khả năng là nơi cư trú của những cư dân có địa vị cao trong xã hội hay tầng lớp tăng lữ. Khoảng thế kỷ thứ IV - V, khu vực Gò Giồng Cát được xây dựng các kiến trúc tôn giáo quy mô lớn bằng đá và giếng nước vuông để phục vụ nghi lễ tôn giáo, còn giếng tròn được xây dựng muộn hơn đôi chút, khoảng thế kỷ V - VI. Sau thế kỷ VI, dấu vết hoạt động cư trú và thương mại ở khu vực cánh đồng Óc Eo mờ nhạt dần.

Ở khu vực sườn núi Ba Thê, tại địa điểm Gò Sáu Thuận cùng với Gò Tư Trâm là nơi cư trú của cư dân cổ khoảng thế kỷ II - IV hoặc sớm hơn đôi chút và khả năng quá trình cư trú này kéo dài đến khoảng thế kỷ VI. Sau đó, nơi đây được quy hoạch trở thành khu vực xây dựng các công trình kiến trúc tôn giáo đơn lẻ trong một bình đồ tổng thể liên quan đến các kiến trúc trên sườn núi Ba Thê như Linh Sơn, Linh Sơn Nam và Linh Sơn Bắc vào khoảng cuối thế kỷ VI đến đầu thế kỷ VII. Vào giai đoạn này, các kiến trúc xây dựng theo trục đông - tây (đông lệch nam 23 độ). Khoảng thế kỷ VIII trở đi, nơi đây được tái thiết thành những kiến trúc dạng cổng đơn giản gồm một kiến trúc dạng “nhà dài” và hai tường gạch thấp hai bên tạo thành một con đường hành lễ hướng về ngôi đền trung tâm trên sườn núi. Hệ trục quy hoạch giai đoạn này thay đổi so với trước đây, lệch khoảng gần 5 độ (hướng đông - tây, đông lệch nam 27 độ). Vào nửa sau thế kỷ IX, nơi đây diễn ra sự thay đổi rõ nét về mô hình kiến trúc khu cổng với việc xây dựng chúng theo dạng thức các “nhóm bộ ba” và việc đắp một con đường hành lễ kè hai bên là gạch - đá, ở giữa được nện đất. Khoảng thế kỷ X trở đi, có một số hoạt động tái thiết mang tính “tạm thời” thiếu tính chuẩn mực như việc dựng lên các kết cấu mái ngói ở rìa các kiến trúc và một số kiến trúc phụ cùng những đường cống nước.

Như vậy, các kết quả phân tích AMS cùng với các phát hiện di tích - di vật trong quá trình khai quật đã góp phần phục dựng quá trình phát triển của “đô thị” cổ Óc Eo trong khoảng hơn 1.000 năm. Trong thời gian tới, với các kết quả phân tích niên đại nhiệt phát quang áp dụng trên gạch xây dựng các kiến trúc sẽ góp thêm những tư liệu quan trọng cho nghiên cứu niên đại và quá trình phát triển của đô thị cổ Óc Eo - Ba Thê.

Chú thích:

(1) Nhiệm vụ “Khai quật khảo cổ học và bảo quản hiện trường” do Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2020 là một hợp phần thuộc Đề án “Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa (văn hóa Óc Eo Nam Bộ)” do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì.

(2) Kinh phí phân tích niên đại bằng phương pháp AMS cho các mẫu than/mẫu gỗ trong bài viết này sử dụng từ nguồn JSPS KAKENHI Grant Number 21H00603.

(3) Các niên đại di tích trong nội dung này được xác định tương đối, qua so sánh đối chiếu các tổ hợp di vật tìm thấy trong tầng văn hóa sau khi kết thúc khai quật và chỉnh lý sơ bộ tại di tích.

(4) Trong chương trình hợp tác Việt - Pháp (1998 - 2002) và cuộc khai quật năm 2017 do Viện Khảo cổ học thực hiện đã làm xuất lộ hệ thống tường bao bên ngoài kiến trúc Linh Sơn, là nơi tìm thấy khung cửa bằng đá với một tấm có văn khắc Phạn ngữ đang lưu giữ bên trong chùa Linh Sơn.

(5) “Báo cáo tổng quan kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang) năm 2017-2020”.

(6) Tiêu biểu như kiến trúc đá ở Gò Giồng Cát phát hiện trong hố khai quật H1, kiến trúc K và một số kiến trúc đã khai quật trong thập niên 1980 nằm gần đó như Gò A1, Gò A3 và Gò A3’.

(7) “Báo cáo tổng quan kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang) năm 2017-2020” .

(8)“Báo cáo tổng quan kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang) năm 2017-2020” .

(9 ) Bùi Minh Trí, Nguyễn Gia Đối, Nguyễn Khánh Trung Kiên 2022. Văn hóa Óc Eo những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo - Ba Thê và Nền Chùa 2017 - 2020 . NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

(10) Những hiện vật này được phát hiện trong các hố khai quật do Viện Khảo cổ học thực hiện ở Gò Giồng Cát (khu B), cách đó khoảng 50m về phía tây.

(11) “Báo cáo tổng quan kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang) năm 2017-2020” .

Bảng 1. Kết quả phân tích niên đại AMS khu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang)

Stt

Tên di tích

Ký hiệu mẫu

Ký hiệu Lab

δ 13 C
(‰)


(yrBP±1σ)

14 C
(yrBP±1σ)

14 C N iên đại hiệu chỉnh theo năm Công nguyên

N iên đại hiệu chỉnh theo năm Công nguyên

N iên đại hiệu chỉnh theo năm Công nguyên

1

GST

BT18.GST.H5.L6.F24.C1

PLD-44712

-25.49±0.28

1873±20

1875±20

129-144 cal AD (15.53%)
154-194 cal AD (42.02%)
199-209 cal AD (10.72%)

123-229 cal AD (95.45%)

2

GST

BT18.GST.H5.L3.5.B1.F22

PLD-45257

-24.73±0.23

1844±19

1845±20

167-186 cal AD (14.18%)
203-238 cal AD (54.09%)

129-241 cal AD (95.45%)

3

GST

BT18.GST.H6.C2.L5.4

PLD-45258

-30.69±0.20

1845±19

1845±20

134-136 cal AD ( 1.23%)
167-186 cal AD (15.10%)
203-238 cal AD (51.94%)

129-240 cal AD (95.45%)

4

GST

BT19.GST.H10L10.b1

PLD-44710

-25.44±0.26

1423±19

1425±20

606-624 cal AD (39.82%)
637-649 cal AD (28.45%)

602-653 cal AD (95.45%)

5

GST

BT17.GST.H1L8

PLD-44711

-24.89±0.25

1327±19

1325±20

659-679 cal AD (44.99%)
748-758 cal AD (18.43%)
768-771 cal AD ( 4.85%)

655-689 cal AD (56.34%)
697-702 cal AD ( 2.11%)
741-773 cal AD (37.00%)

6

GST

BT17.GST.H3.L5

PLD-45554

-27.26±0.37

1108±20

1110±20

896-922 cal AD (29.93%)
952-979 cal AD (31.00%)
983-990 cal AD ( 7.35%)

892-992 cal AD (95.45%)

7

GST

BT17.GST.H1L4

PLD-45256

-26.27±0.21

1093±18

1095±20

899-919 cal AD (27.27%)
958-967 cal AD ( 9.80%)
973-993 cal AD (31.19%)

893- 932 cal AD (37.73%)
940- 994 cal AD (57.26%)
1008-1010 cal AD ( 0.46%)

8

GGC

OE18.GGC.A.H1.MG02

PLD-44708

-28.40±0.30

1866±20

1865±20

130-143 cal AD (13.46%)
155-193 cal AD (39.33%)
199-214 cal AD (15.48%)

125-231 cal AD (95.45%)

9

GGC

OE18.GGC.A.H1.MG04

PLD-45254

-29.50±0.20

1864±19

1865±20

130-143 cal AD (12.69%)
155-193 cal AD (38.22%)
199-215 cal AD (17.36%)

126-231 cal AD (95.45%)

10

GGC

OE18.GGC.A.H1.MG05

PLD-45552

-30.56±0.36

1864±20

1865±20

130-143 cal AD (12.75%)
155-193 cal AD (38.29%)
199-215 cal AD (17.23%)

126-231 cal AD (95.45%)

11

GGC

OE19.GGC.A.H3.MG02

PLD-44707

-27.05±0.29

1620±20

1620±20

416-436 cal AD (27.52%)
464-476 cal AD (13.07%)
499-510 cal AD (10.18%)
515-531 cal AD (17.50%)

412-481 cal AD (57.24%)
491-537 cal AD (38.21%)

12

GGC

OE19.GGC.A.H3.MG03

PLD-45551

-27.73±0.44

1624±20

1625±20

415-436 cal AD (31.33%)
464-475 cal AD (11.86%)
499-509 cal AD ( 8.87%)
515-531 cal AD (16.21%)

408-444 cal AD (37.68%)
447-481 cal AD (21.57%)
492-537 cal AD (36.20%)

13

GGC

OE19.GGC.A.H3.MG04

PLD-45253

-26.18±0.25

1562±18

1560±20

437-462 cal AD (23.37%)
477-498 cal AD (23.78%)
533-551 cal AD (21.12%)

433-468 cal AD (28.00%)
473-522 cal AD (36.61%)
524-564 cal AD (30.83%)

14

GGC

OE19.GGC.A.H4VĐ.MG01

PLD-44709

-27.94±0.26

1699±19

1700±20

265-272 cal AD ( 7.30%)
351-357 cal AD ( 6.71%)
361-404 cal AD (54.26%)

259-279 cal AD (16.22%)
336-413 cal AD (79.23%)

15

GGC

OE19.GGC.A.H4VT.MG05

PLD-45553

-30.52±0.36

1733±20

1735±20

255-286 cal AD (29.17%)
325-364 cal AD (39.10%)

250-295 cal AD (34.69%)
309-403 cal AD (60.76%)

16

GGC

OE19.GGC.A.H5L7.M1

PLD-45255

-26.94±0.22

1599±19

1600±20

428-440 cal AD (11.32%)
451-455 cal AD ( 3.62%)
460-478 cal AD (17.60%)
496-534 cal AD (35.73%)

422-538 cal AD (95.45%)

17

LLO

OE18.LLO.H2c3.L5.1

PLD-44713

-26.70±0.25

6965±25

6965±25

5887-5798 cal BC (68.27%)

5969-5952 cal BC ( 4.37%)
5911-5751 cal BC (91.08%)

18

LLO

OE19.LLO.B.H5e6.L3.11

PLD-45259

-28.23±0.23

1846±19

1845±20

134-136 cal AD ( 1.84%)
166-187 cal AD (16.07%)
203-237 cal AD (50.35%)

129-239 cal AD (95.45%)

19

LLO

OE18.LLO.B.H1e4.L3.10

PLD-45555

-23.98±0.38

1810±20

1810±20

216-249 cal AD (55.60%)
297-307 cal AD (12.67%)

207-256 cal AD (64.52%)
283-326 cal AD (30.93%)

20

LLO

OE18.LLO.H4e3.L3.3

PLD-45556

-27.53±0.44

1578±20

1580±20

435-465 cal AD (28.10%)
475-500 cal AD (23.74%)
508-516 cal AD ( 6.40%)
530-541 cal AD (10.04%)

428-548 cal AD (95.45%)

21

LLO

OE19.LLO.A.H7.ST.M01

PLD-44715

-28.99±0.29

1818±20

1820±20

212-247 cal AD (65.28%)
300-303 cal AD ( 2.99%)

133-137 cal AD ( 0.40%)
165-188 cal AD ( 3.26%)
201-255 cal AD (73.68%)
285-325 cal AD (18.12%)

22

LLO

OE19.LLO.A.H7.ST.M02

PLD-45557

-28.74±0.36

1788±20

1790±20

238-253 cal AD (22.01%)
289-321 cal AD (46.26%)

220-259 cal AD (34.08%)
279-332 cal AD (61.37%)

23

LLO

OE19.LLO.A.H7.ST.M05

PLD-45558

-27.40±0.45

1877±20

1875±20

129-146 cal AD (17.74%)
153-195 cal AD (42.49%)
199-207 cal AD ( 8.03%)

121-229 cal AD (95.45%)

24

LLO

OE19.LLO.B.H3.F18.M05

PLD-45560

-28.55±0.39

1849±20

1850±20

132-138 cal AD ( 4.31%)
163-188 cal AD (20.53%)
202-236 cal AD (43.43%)

129-238 cal AD (95.45%)

25

LLO

OE19.LLO.B.H3.F19.M08

PLD-44716

-28.49±0.25

1944±21

1945±20

32-36 cal AD ( 3.13%)
61-121 cal AD (65.14%)

11-129 cal AD (94.08%)
144-154 cal AD ( 0.92%)
194-199 cal AD ( 0.44%)

26

LLO

OE19.LLO.B.H3.ST.M10

PLD-45561

-29.35±0.57

1961±20

1960±20

25-50 cal AD (26.26%)
55-81 cal AD (29.04%)
98-111 cal AD (12.97%)

23- 18 cal BC ( 0.99%)
8-122 cal AD (94.46%)

27

LLO

OE19.LLO.B.H3m3.L2.M14

PLD-44714

-27.04±0.25

1879±20

1880±20

129-146 cal AD (18.51%)
153-195 cal AD (43.53%)
199-205 cal AD ( 6.23%)

88- 92 cal AD ( 1.04%)
120-226 cal AD (94.41%)

28

LLO

OE19.LLO.B.H5c2.L3.8.M16

PLD-45260

-27.89±0.27

1768±19

1770±20

247-256 cal AD (12.96%)
283-300 cal AD (22.92%)
304-327 cal AD (32.38%)

238-262 cal AD (22.12%)
276-345 cal AD (73.33%)

29

LLO

OE19.LLO.A.H7.ST.M07

PLD-45261

-29.76±0.23

1873±19

1875±20

129-144 cal AD (15.53%)
154-194 cal AD (42.03%)
199-209 cal AD (10.72%)

123-228 cal AD (95.45%)

30

LLO

OE19.LLO.B.H3.ST.M01

PLD-45559

-26.73±0.30

1726±20

1725±20

258-281 cal AD (23.44%)
328-365 cal AD (38.13%)
369-377 cal AD ( 6.69%)

252-291 cal AD (30.53%)
318-405 cal AD (64.92%)

Chart
Description automatically generated Hình 1. Khung niên đại AMS di tích Gò Sáu Thuận (An Giang)

(Nguồn: Nhóm tác giả)

Diagram
Description automatically generated

Hình 2. Khung niên đại AMS di tích Gò Giồng Cát (An Giang)

Chart
Description automatically generated

Hình 3. Khung niên đại AMS di tích Lung Lớn (An Giang) (Nguồn: Nhóm tác giả)

TÀI LIỆU DẪN

BÙI MINH TRÍ, NGUYỄN GIA ĐỐI, NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN 2022. Văn hóa Óc Eo những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo - Ba Thê và Nền Chùa 2017 - 2020 . Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

LÊ XUÂN DIỆM, ĐÀO LINH CÔN, VÕ SĨ KHẢI 1995. Văn hóa Óc Eo - những khám phá mới. Nxb. KHXH, Hà Nội.

LÊ XUÂN THUYÊN 2005. Áp dụng các phương pháp phân tích địa chất môi trường để xác định lòng kênh cổ thuộc văn hóa Óc Eo. Khảo cổ học , số 4 (136).

LÊ HOÀNG PHONG, LÂM KIÊM LỢI 2019. Di tích kênh cổ Lung Lớn Óc Eo - Ba Thê (An Giang). Khảo cổ học , số 2: 3-13.

MANGUIN P. Y. 2002. Báo cáo sơ bộ chương trình khảo cổ hợp tác Pháp - Việt năm 2002. Bản dịch tiếng Việt. Tài liệu chương trình hợp tác Việt - Pháp.

NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH 2019. Diện mạo di tích Gò Giồng Cát (khu di tích Óc Eo - Ba Thê) qua tư liệu khảo cổ học. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Khu di tích Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa: khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị” (tài liệu lưu hành nội bộ): 92 - 111.

NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN 2020. Kết quả nghiên cứu mới tại khu di tích Óc Eo – Ba Thê (An Giang). Khảo cổ học, số 1: 25-38.

NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN VÀ NHIỀU NGƯỜI KHÁC 2022. Báo cáo tổng quan kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học K hu di tích Óc Eo - Ba Thê (An Giang) năm 2017-2020 . Tư liệu Đề án Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa (văn hóa Óc Eo Nam Bộ) .

BASED ON NEW ANALYSIS RESULTS TO DATE ÓC EO - BA THÊ ARCHAEOLOGICAL SITES

NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN, YAMAGATA MARIKO AND KUBO SUMIKO

The recent excavations conducted by the Center for Archaeology, Southern Institute of Social Sciences at Óc Eo - Ba Thê archaeological site resulted in the new findings in settlement sites and religious architectures. New AMS radiocarbon dating results of the 30 samples collected from the cultural layers have contributed to elucidation of the forgotten past in this ancient urban area. The dates of the Gò Giồng Cát and Lung Lớn ancient canal demonstrate the chronology of the sites in Óc Eo paddy field, showing the human habitation from the first to the sixth century AD and the relation to the maritime trading network. Meanwhile the inhabitants in Ba Thê mountain area at Gò Sáu Thuận lived there from the first to the sixth century AD, and the religious architectures were built from the sixth to the eleventh century AD. This paper refers to the recent research into Óc Eo - Ba Thê complex sites and the contribution to new awareness of the dating and sequence of development of this ancient urban.

Nguyễn Khánh Trung Kiên
Nguồn bài viết: Tạp chí Khảo cổ học, số 6/2022
Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

61 Phan Chu Trinh, P. Cửa Nam, TP. Hà Nội

+8424 38255449