N
ăm 2004, khoa Lịch sử Đại học KHXH&NV Hà Nội và Đại học Nữ Chiêu Hoà, Nhật Bản đã tiến hành khai quật thăm dò Nội Thành của Thành Nhà Hồ, với diện tích 48,5m
2
tại góc đông bắc khu vực Nền Vua. Kết quả khai quật đã phát hiện được một số loại hình di tích chính như móng trụ gạch, móng trụ sỏi, các sân nền lát gạch, cống nước và nhiều di vật quý.
Mặc dù diện tích khai quật quá ít nhưng cuộc khai quật này cũng đã cho thấy các di tích kiến trúc trong Nội Thành phong phú và chồng chéo khá phức tạp.
Để tiếp tục nghiên cứu Thành Nhà Hồ, năm 2010, Viện Khảo cổ học và Trung tâm Bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ khai quật Nội thành Thành Nhà Hồ, với 2 hố khai quật nằm ở 2 khu vực và cách nhau tương đối xa, tổng diện tích 130m
2
Hố 1 diện tích khai quật 50m
2
, ở phía tây bắc của khu vực Nền Vua (chếch chéo, gần đối diện với khu vực khai quật lần thứ nhất năm 2004). Theo truyền lại thì đây là khu vực Nền Vua. Đây là khu vực đất cao, tương đối bằng phẳng, hiện vẫn còn thấy dáng dấp của 3 cấp nền cao thấp khác nhau
Hố 2 với diện tích 50m
2
, cách hố thứ nhất khoảng 800m về phía đông nam, nằm trong khu vực mà theo truyền lại là Đông Thái Miếu. Hố 2 được mở trong khu ruộng hình chữ nhật, bề mặt tương đối phẳng, nằm song song với tường thành phía nam.
Đồng thời với 2 hố khai quật thăm dò trong Nội thành, đoàn đã tiến hành hố đào thứ 3 tại đoạn La thành phía đông bắc,với diện tích 30m
2
cách cổng Đông 2,750km về phía đông nam để tìm hiểu kết cấu của La Thành.
3. Kết quả khai quật Nội Thành
3.1. Kết quả khai quật hố 1
3.1.1. Địa tầng
Tại hố 1, chúng tôi đã thực hiện 8 lớp đào (không kể lớp canh tác). Mỗi lớp đào có độ dày 0,2m. Trên cùng là lớp đất canh tác, đất tơi xốp, màu nâu nhạt, bị xáo trộn, ít hiện vật, chủ yếu là gạch bìa, ngói cánh sen thời Trần - Hồ, ngói âm dương thời Lê.
Từ lớp 1 đến lớp 2 đất xáo trộn, do được san lấp tạo mặt bằng từ thời Nguyễn và hiện đại, xuất lộ mảnh gạch thế kỷ I-III in hoa văn ô trám lồng, 10 cụm gạch ngói vỡ, mảnh sành sứ, chủ yếu thuộc thời Trần - Hồ và thời Lê. Tại lớp đào 3 (độ sâu 0,60m- 0,80m) xuất lộ nền sét vàng thời hậu Lê và một chân tảng thời Trần được tận dụng lại. Ở lớp đào 4, phát hiện thêm nền kiến trúc bên trên lát gạch vỡ thời Lê, tận dụng lại gạch thời Trần - Hồ và Lê sơ.
Cắt qua nền gạch này, với các lớp đào 5 và 6 (độ sâu 1,20m - 1,40m), phát hiện thêm 3 cụm vật liệu kiến trúc vỡ được dùng san lấp tạo nền lát gạch vỡ thời Hậu Lê kể trên.
Mặt bằng lớp 5 - 6 hầu hết là đất sét vàng xám được đầm với mảnh ngói âm dương xám thời Lê sơ và mảnh gạch ngói màu đỏ thời Trần - Hồ; Sát vách tây còn lại đáy của một phần móng trụ còn nằm trong vách đất, ở độ sâu 0,90m so với mặt đất. Trụ được đầm bằng đất màu nâu vàng lẫn các hạt laterits màu đỏ nâu và màu đen, kích thước nhỏ, màu sắc phân biệt rõ với đất ở khu vực xung quanh, đất màu nâu xám.
Trên mặt bằng lớp 6 chủ yếu là mảnh vật liệu kiến trúc thời Hồ gồm ngói mũi sen đơn kích thước lớn (rộng x dày: 25,3cm x 1,7cm và 26,8cm x 2,3cm), gạch bìa đỏ, phần lớn bị vỡ còn 1/2, có 2 viên còn nguyên dáng, kích thước lớn: dài x rộng x dày: (41,5 x 21,5 x 6,0)cm. Lớp đào 7 và 8 (độ sâu 1,40m - 1,80m) là lớp đất sét sinh thổ bị cống nước thời Hồ đào sâu xuống. Toàn bộ lòng cống đã bị lấp bằng đất pha cát màu nâu xám lẫn đất sét, giống với đất lấp ở L6. Hiện vật trong lòng cống thoát nước chủ yếu là sành sứ thời Trần - Hồ và Lê sơ, với số lượng lớn.
Do nhiều giai đoạn đều nâng các lớp nền của kiến trúc, một mặt phản ánh mặt bằng rất trũng của Thành Nội, mặt khác đã làm cho diễn biến của trắc diện trở nên phức tạp. Việc phân định các lớp nền ít nhiều gặp khó khăn còn do việc đào xới ngay chính trong các giai đoạn lịch sử. Đặc biệt, việc này xảy ra chủ yếu vào thời Lê sơ và thời hiện đại. Qua 2 hố đào kiểm tra của chúng tôi ở 2 góc đông bắc và tây bắc thì thấy trắc diện của hố 1 có 7 lớp đất, (theo thứ tự tính từ dưới lên). Dưới đây là trắc diện phía bắc của hố kiểm tra:
+ Lớp đất 1: độ sâu 1,60m. Đây là sinh thổ, đất sét đỏ vàng lẫn laterite hạt nhỏ, đất thuần, không có hiện vật.
+ Lớp đất 2: dày từ 0,30m - 0,50m, là lớp đất sinh thổ bị laterite hoá, đất sét xám vàng, mịn, lẫn các hạt laterite nhỏ màu nâu đen, thuần, không có hiện vật.
+ Lớp đất 3: dày từ 0,2m - 0,3m độ sâu 0,90m - 1,30m so với mốc 0 giả định năm 2010. Mặt bằng lớp đất 3 tường hơi dốc từ đông sang tây và từ bắc xuống nam. Phía đông, hiện vật ít, lẫn nhiều bùn, khu vực giữa hố tập trung nhiều mảnh vật liệu kiến trúc thời Hồ có kích thước lớn, đa phần là gạch bìa, đá phiến và đá vôi tự nhiên. Vật liệu kiến trúc thời Lê có số lượng rất ít. Đây là lớp đất đắp, đất sét lẫn đất cát màu xám, lẫn các hạt laterits nhỏ, màu nâu đen, ngoài ra còn có các mảnh vật liệu kiến trúc nhỏ như: ngói cánh sen, ngói mũi vát, mảnh sành sứ, mảnh đá vôi, mật độ thưa. Đất lẫn nhiều bùn, xốp, bở, có màu xám đen, đặc biệt là khu vực tập trung nhiều vật liệu kiến trúc
Như đã trình bày trong phần bình diện, bắt đầu từ lớp đào 4 đến lớp đào 6 có khá nhiều vật liệu kiến trúc thời Lê sơ đã được đổ xuống để lấp cống.
+ Lớp đất 4: dày từ 0,3m - 0,5m ở độ sâu 0,60m - 0,90m so với mốc 0 giả định năm 2010. Trong lớp đất 4 có nền 3 lát bằng gạch bìa đỏ (còn nguyên dáng) thời Lê, có cấu trúc tương đối phức tạp, được chia làm 2 phân lớp, phân lớp dưới được gọi là phân lớp 4A, phân lớp trên được gọi là phân lớp 4B.
- Lớp đất 4B: dày nhất là 15cm, dày trung bình 10cm. Sét có màu vàng đậm, mịn. Lớp đất 4B đã bị phá một phần, xuất lộ không đồng đều. Đây là lớp sét đắp nền của nền 3, nhiều khả năng, khi đắp nền 3, đất sét vàng chỉ được dùng để đắp một phần nền, phần còn lại sử dụng đất sét màu nâu (4A).
- Lớp đất 4A: dày từ 4cm - 35cm, dày trung bình dày 30cm (mỏng ở phía tây, dày ở phía đông). Đất sét màu nâu vàng, mịn, lẫn rất ít hiện vật, được đầm chắc. Trong phạm vi hố kiểm tra 2 (HKT), lớp đất 4 mỏng, dày từ 0,10m - 0,16m, nằm ở độ sâu -80 đến -96 so với mốc 0 giả định năm 2010.
Nhìn chung lớp đất 4A và lớp đất 4B nằm chồng trực tiếp lên lớp vật liệu kiến trúc thời Hồ. Việc có mặt của lớp sét 4B ở vách bắc đã cho thấy vào thời Lê sơ các kiến trúc nền được mở rộng thêm về phía bắc. Trong lớp đất 4 có nền 3 lát bằng gạch bìa đỏ thời Lê còn nguyên dáng.
+ Lớp đất 5: dày từ 0,10m - 0,30m, có xu hướng dốc dần từ đông sang tây, dày ở phía đông, mỏng ở phía tây; nằm ở độ sâu 0,40m - 0,80m so với mốc 0. Đất sét mịn, màu vàng nâu, mỏng, có lẫn nhiều mảnh vật liệu kiến trúc thời Trần - Hồ và thời Lê hơn.
+ Lớp đất 6: dày ở phía tây (55cm), mỏng ở phía đông (20cm - 30cm); nằm ở độ sâu 0,18m - 0,74m so với mốc 0. Lớp đất 6 có bề mặt xuất lộ không bằng phẳng, hơi võng xuống, đặc biệt ở khu vực cách vách tây 1,6m có cụm vật liệu kiến trúc ken dày đặc tạo thành lớp dày (tương ứng với cụm vật liệu kiến trúc 12cm, dài 1,5cm), chủ yếu là các mảnh ngói mũi vát, ngói mũi sen màu đỏ thời Trần - Hồ, ngói âm dương xám thời Lê, ngoài ra còn có các mảnh gạch bìa đỏ thời Trần - Hồ.
+ Lớp đất 7: dày trung bình 0,20m, ở độ sâu 0 đến 0,50m so với mốc 0, là lớp đất được san lấp. Trong quá trình canh tác, người dân đã dọn vật liệu kiến trúc trên bề mặt nhưng vẫn còn sót lại một số mảnh gạch bìa đỏ thời Trần - Hồ, gạch bìa và gạch vồ xám thời Lê, ngói mũi sen vỡ vụn.
3.1.2.Các vết tích kiến trúc
+ Vết tích kiến trúc thời Hồ
a. Nền kiến trúc
Nền kiến trúc chính là lớp đất thứ 3, nằm ở trên bờ cống phía nam, bị các nền kiến trúc thời Lê phủ lên trên, hiện chỉ có thể xác định dựa trên vách địa tầng phía nam của rãnh đào kiểm tra sát vách bắc.
b. Cống thoát nước
Trong phạm vi rãnh kiểm tra được đào ở phía bắc H1 xuất lộ cống thoát nước chạy dọc theo chiều đông tây, lệch 3
0
so với vách bắc của hố khai quật, được đào sâu xuống tầng đất gốc màu nâu vàng lẫn các hạt laterits màu nâu đỏ.
Cống nằm dưới lớp vật liệu kiến trúc đổ và đoạn đường lát gạch chạy theo hướng bắc nam thuộc L6. Đầu phía đông và phía tây vẫn ăn sâu vào vách. Mặt bằng cống có hình chữ nhật, mặt cắt ngang cống có hình thang, hơi thu vào khi xuống đến đáy. Thành và đáy cống được tạo thẳng. Thành phía nam bị phá sâu hơn thành phía bắc (chênh nhau từ 10cm - 15cm).
Cống đã bị lấp nên trong lòng cống lẫn nhiều mảnh xương động vật, đặc biệt là đoạn cống nằm ở góc đông bắc. Vật liệu kiến trúc ít, bao gồm các mảnh ngói mũi vát màu đỏ, bao gồm các loại có kích thước lớn, tương tự loại ngói nằm trong cụm ngói mũi vát nằm sát vách đông, bên cạnh đó còn có một số mảnh ngói mũi vát mỏng, một mảnh chân tảng đá. Ngoài ra còn có mảnh ngói âm thời Lê. Đồ sành có khối lượng lớn nhất, bị vỡ thành các mảnh, không có đủ dáng, xương màu đỏ tím, lẫn nhiều sạn nhỏ màu đen, phần lớn là mảnh vỡ lon. Đồ gốm men có niên đại thuộc thế kỷ XIV, bao gồm mảnh bát hai màu men (trong trắng ngoài nâu), trong lòng in nổi hoa lá, có dấu chân con kê; mảnh đĩa men trắng, miệng cắt khấc cánh hoa, trong lòng chia khoảng, in nổi hoa lá; ngoài ra còn có các mảnh bát men ngọc, bát men trắng. Hiện có một mảnh cối (?) được làm bằng đất sét mịn, màu nâu đỏ, nặn bằng tay, đáy bằng, miệng hơi cong khum, mép miệng vút tròn, thành trong vẽ các đường chỉ chìm song song nhau, chạy dọc từ mép miệng xuống đáy. Đường kính miệng 18,0cm, đường kính đáy 9,0cm, cao 8,2cm.
Cống thoát nước nằm ở bên ngoài của nền kiến trúc thời Trần - Hồ và nằm dưới các kiến trúc thời Lê.
+ Dấu tích kiến trúc thời Lê
a. Nền kiến trúc 1
Nền 1 về cơ bản bị phá gần hết, khu vực gần vách tây còn tương đối nguyên vẹn, rộng gần 3m được đầm chặt bằng đất sét màu nâu vàng, có lẫn ít đất sét nâu, một số mảnh ngói vụn thời Trần - Hồ và Lê. Nền đất xuất hiện ở độ sâu 30cm so với mặt ruộng. Trên mặt nền 1 bị lớp vật liệu kiến trúc dày 0,4m, chủ yếu là mảnh ngói thời Hồ và một chân tảng đá thời Trần - Hồ được sử dụng lại, nằm bên trên móng trụ.
Qua dấu vết của vật liệu kiến trúc trong móng trụ, kết hợp với việc xem xét địa tầng thấy rằng có nhiều khả năng nền kiến trúc 1 có niên đại muộn nhất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII.
b. Nền kiến trúc 2
Nền nằm ở độ sâu -0,52m so với mốc 0 giả định năm 2010 và sâu hơn 0,2m so với đáy chân tảng đá. Đất đầm nền là sét vàng lẫn mảnh vật liệu kiến trúc (chủ yếu là gạch thuộc thời Hồ) vụn nát, được đầm tương đối chặt, khá phẳng. Một số khu vực bị lún, có thể mặt bằng trước khi đầm nền đã có một số hố đào nhỏ. Nền có lẫn mảnh ngói âm dương xám thời Lê.
Đoạn gạch lát còn nguyên vẹn nhất nằm ở giữa hố, còn lại 14 hàng gạch theo chiều đông tây, 11 hàng theo chiều bắc nam được lát bằng gạch bìa thời Hồ, phần lớn bị vỡ, màu đỏ tươi. Hai viên còn đủ dáng có kích thước: dài x rộng: (49 x 24)cm, (47 x 25)cm và (37,5 x 20,0)cm. Nền gạch có cao độ từ -50 đến -56 so với mốc 0 giả định. Do diện tích khai quật nhỏ nên chưa xác định hết quy mô cũng như hướng phát triển của nền. Trong khu vực này chưa phát hiện được dấu vết móng trụ nên có thể đoán định đây là nền sân hoặc nền đường.
Nền 2 nằm chồng trực tiếp lên lớp nền thế kỷ XV. Kết hợp với vật liệu kiến trúc được lát và đầm trên mặt nền có niên đại thuộc thời Trần Hồ, ngói âm dương của thế kỷ XV, do đó nhiều khả năng nền 2 có niên đại vào thế kỷ XVI.
c. Nền kiến trúc 3
Nền 3 ở độ sâu 0,83m so với mặt ruộng; thấp hơn nền 2 là 0,1m; nằm đè trực tiếp lên lớp nền thời Hồ, nằm trong lớp đất 4.
Dấu vết nền 3 còn lại một viên gạch bìa đỏ xuất lộ ở góc tây bắc (còn nguyên dáng, bị vỡ ngang thành 2 mảnh, có kích thước (49,5 x 26,5 x 8,0)cm, được lát trên nền đất sét màu nâu vàng, còn nguyên vị trí) và 2 viên gạch bìa đỏ nằn sát vách Đông. Gạch lát nền nằm thẳng hàng theo chiều đông tây. Đây là những viên gạch bìa điển hình của thế kỷ XV. Nền đất dưới viên gạch được đầm chắc, sét màu vàng lẫn màu nâu, với các mảnh vật liệu kiến trúc được đầm nhỏ, dày 23cm - 30cm.
Về mặt địa tầng, lớp nền này được mở rộng về phía đông, đất đổ nền lấp trực tiếp lên bề mặt cống thoát nước thời Trần - Hồ. Hiện vật phát hiện được chủ yếu thuộc thời Trần - Hồ, Lê sơ. Những căn cứ này cho thấy đây chính là nền kiến trúc của thế kỷ XV.
Ngoài hai loại hình di tích kể trên, chúng tôi còn phát hiện được một trụ móng có niên đại khoảng thế kỷ XVI-XVII và trụ móng còn lại có niên đại khoảng thế kỷ XVI như đã trình bày ở phần trên.
3.1.3. Hiện vật
a. Đồ gốm men:
Đồ gốm men Việt Nam phát hiện được ở H1, có 12 hiện vật còn dáng và 284 mảnh vỡ. Hầu hết bị vỡ nhỏ, chủ yếu là đồ dùng sinh hoạt. Do việc sử dụng các kiến trúc ở khu vực này qua nhiều thời kỳ nên đồ gốm men trong H1 cũng có niên đại trải dài từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX. Tuy nhiên đồ gốm men ở H1 có 3 niên đại chính: gốm men thời Trần - Hồ thế kỷ XIV, gốm men thời Lê sơ thế kỷ XV-XVI và gốm men thời Lê Trung hưng thế kỷ XVII. Dưới đây là một số hiện vật gốm men tiêu biểu:
b. Đồ sành
Đồ sành hầu hết có niên đại thế kỷ XIV-XVI. Có 2 loại chất liệu: sành thô và sành mịn. Đồ sành mịn có các loại hình: lon, vò, bình, bát, lọ, chậu. Đồ sành thô đều là đồ đun nấu.
c. Đồ đất nung
- Gạch, ngói thời Trần - Hồ (thế kỷ XIII - XIV)
Vật liệu kiến trúc thời Trần - Hồ chủ yếu là gạch (759 hiện vật) và ngói (1718 hiện vật). Gạch phát hiện được hầu hết là gạch bìa không có hoa văn, ngoài ra còn có một số gạch bìa có in chữ Hán, gạch vuông lát nền không trang trí hoa văn, gạch lát nền in nổi hoa chanh… hầu hết bị vỡ. Ngói có các loại ngói sen đơn và kép (617 mảnh ngói sen), ngói mũi vát, ngói bò. Đặc trưng của ngói mũi sen ở thành nhà Hồ và đàn Nam Giao nhà Hồ là đầu mũi có xu hướng thu hẹp, dày nặng, đuôi ngói có hoặc không có lỗ thủng để chốt đinh sắt…
- Gạch, ngói thời Lê sơ (thế kỷ XV - XVI)
+ Gạch: Tổng số có 2 viên còn đủ dáng và 236 mảnh. Gạch có màu đỏ nâu (bã trầu) hoặc xám ghi. Bao gồm gạch bìa hình chữ nhật và gạch vồ hình hòm sớ, không trang trí hoa văn được làm bằng đất sét lẫn nhiều hạt laterits nhỏ, nổi rõ trên bề mặt. Phần lớn gạch bị vỡ không còn đủ dáng, kích thước lớn, dày, nặng.
+ Ngói: Ngói thời Lê sơ có ngói dương và ngói âm.
- Trang trí kiến trúc thời Trần - Hồ có lá đề cân trang trí hình rồng, gạch ốp trang trí hoa lá.
- Trang trí kiến trúc thời Lê sơ có các loại gạch thẻ có trang trí hình nhũ đinh, trang trí diềm mái, bờ dải, tượng cá, tượng uyên ương, tượng nghê...
d. Đồ kim loại:
Hiện vật kim loại ở H1, nằm rải rác trong các lớp đất san lấp, bao gồm: Mũi tên đồng thau, tiền, đinh sắt, chì lưới. Tiền đồng đọc được có các đồng: Nguyên Phong Thông Bảo thời Trần Thái Tông (1225 - 1258). Tiền Thiệu Thánh Nguyên Bảo Trung Quốc thời Tống Triết Tông (1094 - 1097). Ngoài ra còn một số đồng bị gỉ không đọc được. Chúng tôi tìm được 29 chiếc đinh, gần giống đinh thuyền ngày nay. Mũi đinh nhọn, thân đinh dài, tiết diện hình tứ giác, được chia làm 4 loại. Chỉ tìm được một mảnh chì lưới bị xi hóa, được làm từ một tấm chì mỏng hình chữ nhật gấp đôi theo chiều dọc để tạo khe gấp vào lưới.
3.2. Kết quả khai quật hố 2
Hố 2 được mở ở phần ruộng lúa nhà ông Vũ Đình Hiến (thôn Xuân Giai, xã Vĩnh Tiến), thuộc phía đông nam của Thành Nhà Hồ. Khu ruộng hình chữ nhật, là khu vực cao nhất so với các khoảnh ruộng xung quanh, không bị ngập nước, 4 phía vẫn còn 4 bờ đất cao - vết tích ranh giới nền của một khuôn viên khá lớn. Tương truyền thì khu vực này là Đông Thái Miếu. Nền đất cao hình chữ nhật, chiều bắc nam dài 100m, chiều đông tây rộng 54,4m. Nền đất song song và cách với tường thành phía nam 224m. Hố 2 được mở theo hướng đông tây, diện tích 50m
2
(bắc nam 5m x đông tây 10m), hướng bắc lệch tây 26
0
.
Mặt bằng của Hố 2 và khu vực được coi là Đông Thái Miếu là các nền đất cao, hiện tại vẫn còn xác định rõ ràng 3 cấp nền.
3.2.1. Bình diện và trắc diện
Tại hố 2, chúng tôi đã đào 3 lớp. Lớp mặt (độ sâu 0m - 0,20m), là lớp đất canh tác, dày 0,10m - 0,15m. Đất màu xám đen, tương đối thuần, đang canh tác nhưng vẫn lẫn một số mảnh vật liệu kiến trúc nhỏ thời Hồ và Lê sơ, các cặn vôi được dùng trong xây dựng kiến trúc. Thực ra thì lớp này đã là lớp văn hoá thời Lê. Lớp 1 (Độ sâu 0,20m - 0,40m), dày từ 0,10m - 0,15m. Đây là lớp đất sét đắp nền kiến trúc. Do quá trình canh tác nên bề mặt của nền kiến trúc có một số chỗ bị xâm phạm (khoảng 8cm - 10cm). Mặt nền là sét vàng lẫn bùn xám, những chỗ bị xâm phạm sâu tạo thành hố và rãnh nhỏ, đất xốp màu xám đen. Bề mặt có các mảnh ngói âm dương thời Lê, màu xám, ngói mỏng, một số chỗ có các cụm cặn vôi màu trắng, dày trung bình 5cm. Đất sét mịn, dẻo dính, khi khô rất rắn. Hiện vật trong lớp này có các mảnh vật liệu kiến trúc thời Trần - Hồ như ngói mũi sen, ngói mũi vát, gạch bìa và mảnh vật liệu kiến trúc thời Lê sơ. Ngay ở độ sâu trung bình 0,15m - 0,18m so với mặt ruộng, đã xuất lộ 7 móng trụ thuộc kiến trúc thời Lê sơ. Lớp 2 (độ sâu 0,40m - 0,60m). Lớp này chỉ được đào xuống một phần trong phạm vi rãnh kiểm tra chạy dọc hố theo chiều đông tây, xuất lộ bó nền kiến truc bằng đá cát kết thời Trần - Hồ.
Để tìm hiểu trắc diện của hố khai quật, đồng thời bảo tồn các dấu tích kiến trúc nên đoàn khai quật đã dừng lại ở lớp đào 2. Nhưng để kiểm tra địa tầng ở khu vực này, chúng tôi đã đào một hố kiểm tra ở góc đông nam. Hố gần với hình chữ nhật, diện tích 4,3m
2
(chiều bắc nam 2,2m - 2,6m, chiều đông tây 1,8m), nơi sâu nhất 1,75m. Trắc diện của vách đông tương đối đày đủ nhất với 7 lớp đất (thứ tự của các lớp đất tính từ dưới lên trên) như sau:
- Lớp đất 1: dày 0,18m, sét mịn, vàng nhạt lẫn đen, đất laterits hoá sạn sỏi nhỏ màu đen và sét xám trắng. Đây là lớp sinh thổ không có và không bị lẫn hiện vật.
- Lớp đất 2: dày 0,20m, đất sét lẫn laterit có sạn sỏi nhỏ màu đen và sét laterite hoá lẫn sỏi son màu đỏ, ngoài ra trong lớp đất 2 có lẫn một số mảnh vật liệu kiến trúc (mảnh gạch bìa đỏ thời Trần).
- Lớp đất 3: dày 0,17m, đất bị laterite hoá lẫn sạn sỏi nhỏ màu đen.
- Lớp đất 4: dày 0,43m, lớp này dày nhất, sét vàng lẫn sỏi son màu đỏ, các mảnh đá vôi màu xanh và mảnh gạch bìa màu đỏ thời Hồ số lượng ít nằm lẫn trong đất. Bề mặt của lớp đất 4 tương đương với bề mặt của hai viên gạch lát nền hình vuông thời Hồ. Như vậy từ lớp đất 4 trở xuống là thuộc thời Hồ.
- Lớp đất 5: dày 0,23m, đất màu vàng xám, lẫn mảnh vật liệu kiến trúc thời Hồ (mảnh đá vôi, mảnh gạch bìa và mảnh ngói mũi sen), thời Lê (ngói âm dương) và xỉ vôi màu trắng. Về cơ bản, đây là lớp đất đắp thời Hồ và Lê sơ, bị thời Lê Trung hưng đào xới.
- Lớp đất 6: dày 0,31m, đất bị xáo trộn, gồm có đá vôi, mảnh vật liệu kiến trúc vỡ vụn thời Hồ và Lê Sơ, đất sét màu nâu xám, vàng đỏ.
- Lớp đất 7: dày 0,19m, đây là lớp đất canh tác có lẫn ít mảnh vật liệu kiến trúc màu xám đen.
Vách nam cũng có 7 lớp đất, từ lớp đất 1 đến lớp đất 4 có cấu tạo và độ dày tương tự vách đông.
Nhìn chung, địa tầng của Hố 2 tương đối ổn định, mức độ xáo trộn không lớn. Nhiều khả năng các vật liệu kiến trúc đổ trên bề mặt nền đã bị dọn đi tạo mặt bằng canh tác. Các lớp đào như lớp mặt và lớp 1 tương ứng với lớp đất 7 và một phần bề mặt của lớp đất 6 trong địa tầng hố kiểm tra.
3.2.2. Các vết tích kiến trúc
Hố 2 có 2 lớp kiến trúc thuộc thời Hồ và thời Lê sơ. Lớp kiến trúc thời Lê sơ chồng trực tiếp lên trên lớp kiến trúc thời Hồ.
a. Các dấu tích kiến trúc thời Hồ
Dấu tích kiến trúc thời Hồ gồm có nền kiến trúc, hàng đá cát kết bó móng kiến trúc và khoảng sân lát gạch vuông.
- Nền kiến trúc: Từ lớp đất thứ 2 đến lớp đất thứ 4, dày 0,8m là lớp đất đắp nền kiến trúc, được đầm rất chặt, chủ yếu là sét thuần, một số mảnh vật liệu kiến trúc vỡ, xỉ vôi được tận dụng, chỉ tập trung trong lớp đất 5 trở lên, độ sâu từ 0,35m - 0,75m so với mặt ruộng. Như vậy, trước khi xây dựng các kiến trúc trong thành, nền sinh thổ tương đối thấp vì toàn bộ thành nhà Hồ nằm trong thung lũng lớn, trước khi xây dựng, người ta đã phải đào đắp nâng nền của các kiến trúc để tránh việc ngập úng. Các lớp đất này được đào đắp không cùng một lúc mà vào nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn.
- Bó nền kiến trúc: Sau khi phát hiện được nền sét có các móng trụ, đoàn khai quật đã đào một rãnh kiểm tra cắt dọc nền sét theo chiều đông tây. Người dân địa phương cho biết vào năm 2008 đã đào ở phía đông của hố 2 và phát hiện được hàng đá cát kết được chôn đứng. Trước đó, người dân đã đào và lấy đi 3 khối đá hình hộp chữ nhật. Một trong số 3 viên này hiện được giữ ở nhà ông Toàn. Chúng tôi đã đào một hố chạy theo chiều đông tây dài 10m, rộng 1,3m và phát hiện được hàng đá xây bó nền kiến trúc thời Trần - Hồ ở độ sâu 0,33m - 0,36m so với mặt ruộng (tương đương với bề mặt lớp đào 2). Hàng đá nằm xiên theo hướng đông tây, và ăn tiếp vào hai đầu vách hố. Bó nền được làm bằng đá cát kết, màu nâu xám, hạt cát nhỏ, mịn, bề mặt đá được đẽo phẳng, vẫn còn vết chế tác, mặt quay ra ngoài được mài nhẵn. Các viên đá được chôn đứng, đặt sát nhau tạo thành mặt phẳng. Chân của các khối đá kè được chèn bằng gạch bìa và mảnh đá vôi nhỏ tạo mặt phẳng, mặt phẳng quay về phía nam. Mạch ghép giữa các khối đá rất nhỏ (0,3cm - 0,5cm). Bó nền đã xuất lộ 14 viên đá, viên dài nhất là 0, 87m, viên rộng nhất là 50,0m, viên dày nhất là 22,5m.
Căn cứ vào chiều dài đã xuất lộ của hàng đá bó nền có thể suy đoán có một kiến trúc tương đối lớn thuộc thời Trần - Hồ được xây dựng ở khu vực này. Kiến trúc có hướng mở ra phía nam, đã bị phá huỷ gần hết. Kiến trúc thời Lê xây chồng trực tiếp lên trên kiến trúc thời Hồ.
- Sân lát gạch vuông;
Trong hố kiểm tra phát hiện được một khoảng nền sân lát gạch vuông với 2 viên gạch lát nền hình vuông thời Trần - Hồ màu đỏ tươi, còn nguyên vẹn, mỗi cạnh dài 0,45m, dày 0,5m. Sân còn tiếp tục phát triển về các hướng nam, dông và tây.
b. Các vết tích kiến trúc thời Lê sơ: Các di tích kiến trúc thời Lê sơ gồm có: nền kiến trúc đắp bằng đất sét và hệ thống móng trụ.
- Nền kiến trúc: được đầm kỹ bằng đất sét màu vàng, mịn, dẻo quánh, khi ướt dính bết, khi khô rất rắn, tương đối thuần, chỉ lẫn một số mảnh vật liệu kiến trúc, một số chỗ có hạt xỉ vôi nhỏ, màu trắng. Phần phía bắc nền kiến trúc được làm trên bề mặt nền kiến trúc thời Hồ, phần phía nam đắp trực tiếp trên mặt khoảng sân lát gạch của thời Hồ.
Qua rãnh cắt nền chạy dọc theo chiều đông tây, thì thấy ngay trên bề mặt hàng đá bó nền đã là lớp đất sét màu vàng nhạt, có các mảnh vật liệu kiến trúc thời Hồ: mảnh ngói úp nóc có mặt cắt hình chữ D, ngói mũi sen kép, mảnh đá cát kết nhỏ. Lớp nền thời Lê được đầm chặt, rất phẳng. Quy mô và hình dáng của nền hiện tại chưa xác định được do diện tích khai quật nhỏ.
Qua mặt cắt của hố kiểm tra và móng trụ cho thấy có 2 lớp đất đắp theo thứ tự từ dưới lên:
Lớp đất dưới cùng tương đương với lớp đất 5 của hố kiểm tra, dày 0,40m. Đất sét màu vàng xám, có chỗ sét vàng đỏ lẫn sỏi son laterits non và mảnh vật liệu kiến trúc được san tạo mặt bằng, đồng thời làm tăng độ vững chắc của nền móng, mật độ tương đối nhiều, hiện vật chủ yếu là gạch ngói thời Hồ (gạch bìa, mảnh đá vôi, đá phiến) và các mảnh ngói xám thời Lê.
Lớp đất đắp nền bên trên tương đương với lớp đất 6 của hố kiềm tra, dày 0,30m. Đất sét vàng lẫn hạt laterits nhỏ màu đỏ son, được đầm chặt sau khi đã đầm kỹ lớp dưới. Vật liệu kiến trúc lẫn trong đất có số lượng ít, kích thước nhỏ hơn lớp dưới.
Phần nền phía nam được đắp đè lên trên nền sân lát gạch thời Hồ. Như vậy, vào thời Lê sơ, diện mạo các kiến trúc của khu vực này ít nhiều đã được thay đổi. Sân của kiến trúc thời Hồ đã được chuyển đổi thành nền kiến trúc của thời Lê. Ông Vũ Đình Hiến (chủ ruộng) cho biết, cách đây vài năm đã tìm được đôi rồng bằng đá trong khu ruộng này, có thể đây là rồng được đặt ở thành bậc.
- Hệ thống móng trụ móng kiến trúc thời Lê:
Sau khi làm sạch bề mặt, ngay tại lớp 1 (độ sâu 020m - 0,25m so với mặt ruộng) đã xuất lộ hệ thống 7 móng trụ thời Lê sơ, được đầm bằng ngói âm dương màu xám, lẫn các mảnh ngói cánh sen thời Trần - Hồ. Các móng trụ thuộc kiến trúc nhà nằm theo chiều đông tây, có 3 hàng cột. Tính theo chiều đông tây, các móng trụ được chia thành 4 hàng, còn theo chiều bắc nam thì có 3 hàng. Theo khoảng cách của trụ móng thì nhà có gian rộng 4,3m (khoảng cách tâm trụ 3 và trụ 2), chái rộng 3,8m (khoảng cách tâm trụ 2 và trụ 7). Khoảng cách tâm của 2 móng trụ trong cùng một vì là 2,3m (khoảng cách tâm giữa trụ 1 và trụ 3) và 2,0m (khoảng cách tâm giữa trụ 3 và trụ 6). Qua mặt bằng xuất lộ của các móng trụ có thể đoán định đây là các móng trụ của kiến trúc quay theo hướng nam. Riêng móng trụ 4 chưa tìm được mối liên hệ với các móng trụ còn lại. Đặc điểm chung của các móng trụ là mặt bằng hình chữ nhật (?), kích thước tương đối đồng đều. Biên trụ rõ, có các mảnh ngói cắm nghiêng xiên, dấu vết này đặc biệt rõ ở móng trụ 1 và móng trụ 2. Móng trụ đã bị phá mất phần trên, hiện còn lại một phần thân và đáy trụ nằm trong lớp đất sét vàng đầm tạo nền nhà. Móng trụ số 4 được cắt theo chiều đông tây để kiểm tra kết cấu: đáy là lớp cát mỏng. Đáy trụ hình lòng chảo, độ cong không đều, có 3 lớp vật liệu đầm theo thứ tự từ dưới lên trên:
+ Lớp 1: dày 10cm, gồm sét lẫn xỉ vôi và mảnh ngói âm xám thời Lê.
+Lớp 2: dày 5cm - 10cm, mỏng ở giữa trụ, dày dần sang hai bên, được đầm bằng sét lẫn xỉ vôi.
+ Lớp 3: dày 34cm, được đầm bằng các mảnh ngói âm dương màu xám, vỡ vụn thời Lê và các mảnh ngói mũi sen, ngói mũi vát màu đỏ thời Trần - Hồ, mật độ mảnh ngói dày đặc hơn so với lớp 1.
Căn cứ vào kết cấu của địa tầng mối quan hệ các thành phần kiến trúc, vật liệu xây dựng trụ móng, có thể xác định được đây là các trụ móng của kiến trúc thời Lê sơ.
3.2.3. Hiện vật
a. Đồ gốm men:
Gốm men ở hố 2 có 29 mảnh, trong đó có 8 mảnh gốm men ngọc và men trắng thế kỷ XIV. Gốm men thế kỷ XV-XVI chỉ có 16 mảnh gốm men trắng, men trắng vẽ lam, gốm men nâu. Việc canh tác, và đào các móng trụ thời Lê, đã làm xáo trộn địa tầng, khiến các mảnh gốm men này đã bị đảo vị trí. Do việc bảo tồn di tích, diện tích khai quật nhỏ, chỉ được bóc một lớp mỏng trên bề mặt, nên số lượng và loại hình hiện vật không nhiều.
b. Đồ sành: 37 mảnh, bao gồm sành mịn và sành thô, chủ yếu là sành thế kỷ XV. Sành thế kỷ XIV chỉ có có 4 mảnh.
c. Đồ đất nung
- Đồ đất nung thời Trần - Hồ
+Gạch: có gạch bìa hình chữ nhật và gạch lát nền hình vuông. Viên gạch bìa còn đủ dáng, mặt bị bào mòn, màu đỏ hồng lẫn vàng trắng loang lổ, được làm bằng đất sét mịn, dài 35,1cm, rộng 18,3cm, dày 5,0cm. Gạch lát nền hình vuông có 2 loại: gạch trang trí hoa chanh và gạch không trang trí hoa văn.
+ Ngói: Có các loại ngói mũi sen đơn và ngói mũi sen kép vẽ đưòng chỉ chìm, ngói bò úp nóc.
- Đồ đất nung thời Lê sơ:
+ Gạch: gồm gạch bìa, hình chữ nhật màu xám và đỏ. Gạch vồ cũng có 2 màu xám và đỏ.
+ Ngói: Có các loại ngói mũi vát, (kích thước nhỏ, mỏng, độ nung cao), ngói dương (màu xám ghi, mỏng), ngói âm (chủ yếu ở móng trụ 4 và móng trụ 5, bị đầm nhỏ), ngói úp nóc.
+ Trang trí kiến trúc gồm có: đầu ngói âm, dương, trang trí diềm mái...
|
1. Khu vùc nÒn Vua
|
2. C¸c nÒn kiÕn tróc ë H1
|
3. §Þa tÇng hè kiÓm tra (H1)
|
|
4. TÊm èp in cóc d©y,
thÕ kû XIV (H1)
|
5. Ngãi mòi sen kÐp
thÕ kû XIV (H1)
|
6. Tîng uyªn ¬ng
thÕ kû XIV (H1)
|
7. Tîng c¸
thÕ kû XV (H1)
|
|
8. DiÒm trang trÝ ®inh trßn thÕ kû XV-XVI (H1)
|
9. TÊm èp in hoa d©y
thÕ kû XV-XVI (H1)
|
10. MÆt b»ng H2.L1
|
11. Hè kiÓm tra ®Þa tÇng H2
|
|
12. C¾t trô mãng sè 4 (H2)
|
13. G¹ch l¸t hoa chanh
thÕ kû XIV (H2)
|
14. §Çu ngãi ©m in næi phîng thÕ kû XV (H2)
|
15. C¸c líp ®Êt ®¾p
La Thµnh (H3)
|
4. Kết quả khai quật La Thành (hố 3)
Hố 3 được mở nhằm mục đích kiểm tra cấu trúc, địa tầng và vật liệu xây đắp La Thành - vòng tường thành vòng ngoài của Thành Nhà Hồ. Vòng tường này có một số đoạn được đào đắp bằng đất, trông giống như (và thực tế đã được tận dụng) con đê lớn. Số còn lại, (chiếm phần lớn) là lợi dụng tự nhiên như sông, núi để làm tường thành bằng thiên nhiên. Chính yếu tố này đã làm tăng tính hùng vĩ, hiểm trở và kiên cố cho việc phòng thủ của Thành Nhà Hồ.
Khu vực mở hố cắt La thành là đê Cống Ang, thuộc thôn Xuân Áng, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc. Hố hình chữ nhật, được mở theo hướng đông tây, hướng bắc lệch đông 56
0
, diện tích 30m
2
(chiều đông tây 10m, chiều bắc nam 3m).
Đoạn tường thành được chọn để mở hố cách sông Bưởi (khu vực làng Bèo) 1,5km về phía nam, mặt đê rộng 7m, chân đê rộng 41m, mặt đê cao 5,70m so với chân đê, phía bắc nối với núi Hắc Khuyển, phía nam chạy dài tới núi Đốn Sơn (khu vực đàn tế Nam Giao) và cách cổng Đông của Thành Nhà Hồ 2,7km.
Hố có địa hình dốc, góc đông bắc và góc đông nam thấp, góc tây bắc và góc tây nam cao (mặt bằng dạng dốc taluy, độ cao chênh lệch giữa vách bắc và vách nam 1,0m, độ cao chênh lệch giữa vách tây và vách đông 2,5m).
Địa tầng H3 có 7 lớp đất đắp, theo thứ tự từ dưới lên (đo theo vách bắc).
- Lớp 1: dày 0,80m, nằm ở độ sâu -4,0m đến -4,8m so với mép hố. Đất sét vàng lẫn xám xanh loang lổ cộng với đá sạn laterits.
- Lớp 2: dày 0,40m, nằm ở độ sâu -3,0m đến -4,0m so với mép hố. Đất sét vàng lẫn sét xám ít. Vách nam hoàn toàn không có lớp đất này.
- Lớp 3: có độ dày không đồng đều, dày từ 0,10 - 0,80m, nằm ở độ sâu -3,0m đến -3,8m so với mép hố. Đất sét vàng lẫn đá laterits và nhiều đất sét xám xanh.
- Lớp 4: có độ dày không đồng đều, dày từ 0,40 - 0,90m, mặt bằng trên nằm ở độ sâu -2,3m đến -3,0m,
mặt bằng dưới nằm ở độ sâu -3,0m đến -3,5m so với mép hố. Đất màu nâu lẫn các hạt laterite nhỏ.
- Lớp 5: dày trung bình 0,40m, mặt bằng trên nằm ở độ sâu -2,0m đến -2,6m, mặt bằng dưới nằm ở độ sâu -2,3m đến -3,0m so với mép hố. Đất màu nâu lẫn hạt laterits lẫn với đất màu xám xanh.
- Lớp 6: có độ dày không đồng đều, dày từ 0,2 - 0,40m, mặt bằng trên nằm ở độ sâu -1,8m đến -2,3m, mặt bằng dưới nằm ở độ sâu -2,0m đến -2,6m so với mép hố. Đất màu nâu lẫn sỏi laterite và sét xám xanh, tỷ lệ thấp hơn so với các lớp dưới.
- Lớp 7: dày 1,80m, nằm ở độ sâu 0m đến -2,4m so với mép hố. Đất màu nâu, thuần mịn, xốp, có nhiều lỗ rỗng.
Đáy hố sâu 4,8m so với mặt đê, được cấu tạo bằng đất sét loang lổ, gồm nhiều sạn laterits đen và đất sét vàng, nâu và xám.
Trong hố hoàn toàn không có hiện vật. Như vậy có thể thấy rằng, khu vực mở hố cắt La Thành, vào thời đó không có dân cư trú. Đất đào đắp La Thành lấy tại chỗ.
5. Một vài nhận xét
Kết quả khai quật khảo cổ học di tích Thành Nhà Hồ năm 2011 đã cho chúng ta thêm một số nhận thức về di tích này:
5.1.
Các vết tích kiến trúc trong Nội Thành và các cổng thành hầu như còn khá nguyên vẹn. Phần bị phá hoại qua các thời đại lịch sử có thể chỉ là phần nổi bên trên, do vậy, Thành Nhà Hồ ẩn chứa tiềm năng khá lớn của những phát hiện khảo cổ học.
5.2.
Hai cuộc khai quật trong Thành Nội đều nhằm vào những vị trí mà theo truyền lại là nơi có các kiến trúc quan trọng thời Trần - Hồ. Kết quả khai quật dường như tuơng đối trùng hợp với truyền thuyết. Điều này cho thấy việc khai quật Nội Thành sẽ có nhiều hi vọng tìm được các dấu tích kiến trúc thời Trần - Hồ và Lê Sơ.
Về mặt địa tầng, nội thành Thành Nhà Hồ, do ở vị trí thấp nên hầu như các thời đều có việc nâng cấp nền. Chính vì vậy, địa tầng rất phức tạp. Các cuộc khai quật trong nội thành đều cho thấy tầng văn hóa khá dày, có thể đến trên 2m.
5.3.
Với việc làm xuất lộ dấu tích hàng đá bó nền kiến trúc thời Trần - Hồ ở khu vực được coi là Đông Thái Miếu, một mặt phản ánh quy mô lớn của kiến trúc thời đó. Mặt khác, việc phát hiện hệ thống móng trụ thời Lê sơ ở bên trên đã cho thấy tính chất phức tạp, chồng chéo nhau của các kiến trúc nhiều thời đại.
5.4.
Khu vực Nền Vua (H1) đã bị đào phá sâu, các vết tích kiến trúc thời Hồ rất khó xác định do bị thời sau phá huỷ, hiện còn nằm sâu trong lòng đất, bị các kiến trúc thời Lê nằm đè lên trên. Bố cục, diện mạo, quy mô, công dụng của các thành phần kiến trúc ở đây như thế nào thì vẫn là một câu hỏi lớn dành cho các cuộc khai quật quy mô lớn trong tương lai.
5.5.
Cuộc khai quật đã xuất lộ một khối lượng hiện vật khá lớn, loại hình tương đối đa dạng, chủ yếu thuộc thời Trần Hồ và Lê sơ. Hiện vật của cuộc khai quật phần lớn có cùng niên đại với tòa thành như gạch bìa (cả có chữ và không có chữ Hán), ngói mũi sen thời Trần - Hồ, ngói âm dương và các trang trí kiến trúc thời Lê và rất nhiều đồ sành sứ khác... Cũng có nhóm hiện vật có niên đại cách xa niên đại của thành như gạch múi bưởi (thế kỷ I-III), gạch Giang Tây Quân (thế kỷ IX), nhóm hiện vật gốm men có niên đại thế kỷ XVII-XIX. Nhóm hiện vật này cho phép tìm hiểu diễn trình lịch sử - văn hóa lâu dài của vùng đất An Tôn.
5.6.
Lần đầu tiên vòng thành ngoài - La thành - được khai quật thăm dò. Mặt cắt địa tầng La thành đã cho thấy các lớp đất đắp La thành và việc xây dựng La thành đơn giản là đào đắp đất tại chỗ.
TÀI LIỆU DẪN
ĐẶNG HỒNG SƠN 2007.
Vật liệu kiến trúc thời Trần - Hồ ở Thành Nhà Hồ, Nam Giao và Ly Cung
. Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử. Tư liệu Bảo tàng Nhân học, Đại học KHXH&NV Hà Nội.
HÁN VĂN KHẨN, ĐẶNG HỒNG SƠN 2005.
Báo cáo khai quật lần thứ nhất di tích Thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc- Thanh Hóa)
. Tư liệu Khoa Lịch sử, Đại học KHXH& NV Hà Nội.
TỐNG TRUNG TÍN và cộng sự 2008.
Báo cáo kết quả khai quật khu vực Cửa Nam Thành Nhà Hồ năm 2008 (xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).
Tư liệu Viện Khảo cổ học.
TỐNG TRUNG TÍN và cộng sự 2008.
Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học di tích Đàn Nam Giao - Thành Nhà Hồ lần thứ 3 năm 2008
. Tư liệu Viện Khảo cổ học.
TỐNG TRUNG TÍN và cộng sự 2011.
Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học di tích Đàn Nam Giao - Thành Nhà Hồ lần thứ 4 năm 2009-2010
. Tư liệu Viện Khảo cổ học.
PHAN HUY CHÚ 1960.
Lịch triều hiến chương loại chí
, Tập 1. Nxb Sử học, Hà Nội.
NGÔ SỸ LIÊN 2000.
Đại Việt sử kí toàn thư
, bản in Nội các quan bản - mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), bản dịch Hoàng Văn Lâu. Nxb VHTT, Hà Nội.
QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN 1992.
Đại Nam nhất thống chí
, tập II, bản dịch của Phan Trọng Điểm. Nxb Thuận Hóa, Huế.
EXCAVATION AT THE INNER CITADEL
AND LA (OUTER) CITADEL (THµNH NHµ Hå) IN 2011
TrÇn Anh Dòng, Mai Thïy Linh, Tr¬ng Hoµi Nam
The excavated trenches inside Thµnh Néi (Inner citadel) were based on the places that legendarily were important architectures from the TrÇn - Hå periods.
The excavated trench considered to be §«ng Th¸i MiÕu (eastern King’s temple) was unearthed with a fairly large- scale foundation of architecture from the TrÇn - Hå periods under the early Lª’s foundation.
The excavated trench in the area of “NÒn Vua” (King’s foundation) shows architectural remains from the TrÇn - Hå period lying deeply underground and were overlapped by the Lª’s architecture. However, their scale and physiognomy have not been identified.
The first excavated trench on one of the guarding post of La Thµnh (outer citadel) just revealed that the citadel was built with earth collected on site and no artifacts have been found there so far.
The collection of the found artifacts from those trenches is rich with mainly bricks, tiles, ceramics and earthen aware from the TrÇn - Hå and early Lª periods.