T
heo nhận thức truyền thống, trong giai đoạn sơ kỳ Đá mới Việt Nam có hai nền văn hóa nổi tiếng. Đó là văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn. Mối quan hệ giữa văn hóa Hòa Bình và
văn hóa Bắc Sơn lâu nay vẫn là một vấn đề mang tính thời sự của khảo cổ học Việt Nam và khu vực. Đã có nhiều cuộc thảo luận nhằm làm rõ mối quan hệ này. Tựu chung lại có mấy vấn đề chính sau:
- Văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn là hai hay một văn hóa. Văn hóa Hòa Bình có phải là loại hình địa phương của văn hóa Bắc Sơn?
- Văn hóa Bắc Sơn có phải là hậu duệ của văn hóa Hòa Bình hay chỉ là loại hình địa phương của văn hóa Hòa Bình?
Trong các công trình nghiên cứu
Văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam
và
Khảo cổ học Việt Nam. Tập I- Thời đại Đá Việt Nam
và
Văn hóa Bắc Sơn
(Hoàng Xuân Chinh cb 1989; Hà Văn Tấn cb 1998; Hà Hữu Nga 2001), các tác giả đã trình bày rất đầy đủ các quan điểm, ý kiến của các học giả trong và ngoài nước về vấn đề này. Ở đây chúng tôi sẽ không trình bày lại nữa.
Trên cơ sở những tư liệu mới được hệ thống được từ khu vực miền núi Đông Bắc, và trên cơ sở so sánh đối chiếu những đặc trưng cơ bản của di tích, di vật và niên đại, bài viết này, chúng tôi xét mối quan hệ hai văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn trong phạm vi miền núi Đông Bắc.
1.
Mối tương quan văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn qua dẫn liệu thống kê
1.1.
Đặc điểm phân bố
Từ năm 2000 đến nay, trên địa bàn miền núi Đông Bắc đã phát hiện được 21 di tích Hòa Bình và 23 di tích văn hóa Bắc Sơn.
Phần lớn
nơi cư trú của cư dân
Hòa Bình
ở vùng núi Đông Bắc
là hang động
.
Tỉ lệ các di tích hang động là
66,67 %
với
14
/
21
di tích,
số di tích thềm sông
chiếm
33,3
3%,
(7/21). So với các khu vực khác như vùng Hòa Bình - Thanh Hóa - Nghệ An, thì loại hình cư trú ngoài trời trên các thềm sông ở khu vực miền núi Đông Bắc chiếm tỷ lệ lớn.
Hầu hết
nơi cư trú của cư dân
Bắc Sơn
là hang động
. Chưa tìm thấy di tích Bắc Sơn ngoài trời. Có thể coi cư dân Bắc Sơn là những “động cư nhân - người sống trong hang” như một đặc trưng cố hữu của nền văn hóa Bắc Sơn. Ngoài việc cư trú trong hang động vẫn có một bộ phận cư dân Hòa Bình sinh tồn trên những bậc thềm cổ sông, duy trì lối sống mà những tiền nhân - cư dân văn hóa Sơn Vi truyền lại.
Các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên là nơi cư trú chủ yếu của cư dân Bắc Sơn. Các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng và Bắc Kạn có sự phân bố xen kẽ giữa cư dân Hòa Bình và Bắc Sơn. Trong đó những sơn khối đá vôi và những bậc thềm cổ dọc sông Gâm là địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân Hòa Bình.
1.2. Đặc điểm nơi cư trú
- Qua
nghiên cứu
thống kê,
chúng ta
t
hấy các di tích hang động
Hòa Bình
có diện tích trung bình, hoặc khá
lớn
.
C
ác hang có diện tích lớn
từ
500
-1.0
00m
2
chiếm
14,28%
, số lượng các hang động mái đá có diện tích
từ 300
m
2
đến
trên
400
m
2
chiếm
21,42
%, các hang động đá có diện tích
từ 100
m
2
đến
trên
200
m
2
chiếm
21,42
%, các hang động đá có diện tích
từ 50
m
2
đến 100
m
2
chiếm
14,28
%,
các hang động đá có diện tích
dưới 50
m
2
có 4
di tích chiếm
28,57
%
.
C
ác di tích hang động
Bắc Sơn
có diện tích trung bình, hoặc khá
lớn
.
C
ác hang có diện tích lớn
từ
500
-1.0
00m
2
chiếm
26,08%
, số lượng các hang động mái đá có diện tích
từ 300
m
2
đến
trên
400
m
2
chiếm
17,39
%, các hang động đá có diện tích
từ 100
m
2
đến
trên
200
m
2
chiếm
13,04
%, các hang động đá có diện tích
từ 50
m
2
đến 100
m
2
chiếm
13,04
%,
các hang động đá có diện tích
từ 15 đến dưới 50
m
2
chiếm
30,43
%
(
Biểu đồ 1
).
Biểu đồ 1.
So sánh diện tích cư trú của cư dân Hòa Bình và Bắc Sơn
So sánh trên cho thấy những hang có diện tích từ 500 - 1.000m
2
được người Bắc Sơn cư trú nhiều hơn người Hòa Bình. Ngược lại những hang có diện tích từ 100-400m
2
được người Hòa Bình lựa chọn nhiều hơn người Bắc Sơn. Những hang có diện tích nhỏ từ 15-≤ 50m
2
được cả người Hòa Bình và Bắc Sơn lựa chọn nhiều nhất.
-
Các hang động
Hòa Bình
ở
khu vực miền núi Đông Bắc
phân bố ở mọi độ cao khác nhau. Qua thống kê cho thấy, những hang có độ cao trung bình từ 30
-
50m trở xuống chiếm số lượng 28,57%, từ 15
- 30m trở xuống chiếm 28,57%, số hang cao từ 4m đến dưới 15m chiếm 45,86%.
Các hang động Bắc Sơn ở khu vực miền núi Đông Bắc phân bố ở mọi độ cao khác nhau. Những hang có độ cao trung bình từ 30
-
50m trở xuống chiếm số lượng 39,13%, từ 15
- 30m trở xuống chiếm 8,69%, số hang cao từ 1m đến dưới 15m chiếm 47,82%. Duy nhất có hang Phượng Hoàng ở độ cao 195m so với mặt đất, chiếm tỷ lệ 4,34% (
Biểu đồ 2
).
Qua thực tế khảo sát các hang Tiền sử ở khu vực này cho thấy, việc leo lên các hang
Bắc Sơn khá thuận tiện, không vất vả và nguy hiểm cho con người cư trú trong hang.
- Hướng của hang mà cư dân Hòa Bình trong khu vực này chọn làm nơi cư trú thường là theo hướng
t
ây hoặc
đ
ông
n
am chiếm tới 50%. Hướng chính
b
ắc hầu như không có. Nhìn chung, họ thường chọn các hang có hướng phù hợp với cảnh quan nơi cư trú. Có sự xuất hiện xu hướng chọn hướng hang này có lẽ do ảnh hưởng của địa hình vì chúng ta đều biết rằng các dãy núi lớn trên địa bàn khu vực là Bắc Mê, Na Hang, Ba Bể, Ngân Sơn
và
Bắc Sơn đều chạy theo hướng
t
ây
b
ắc
-
đ
ông
n
am. Với thời tiết thuộc khu vực
nhiệt đới gió mùa theo các nhà nghiên cứu thì hai hướng này tận dụng được tối đa nhiệt độ và ánh sáng. Mặt khác, phần lớn các dòng sông suối nơi đây chảy theo hướng
t
ây
b
ắc
-
đ
ông
n
am, phần lớn hang động có cửa quay về hướng dòng chảy đều được sử dụng làm nơi cư trú.
|
|
|
|
Độ cao hang Hòa Bình (so với chân núi)
|
Độ cao hang Bắc Sơn (so với chân núi)
|
Biểu đồ 2
. So sánh độ cao hang Hòa Bình và Bắc Sơn miền núi Đông Bắc
Hướng của hang mà cư dân Bắc Sơn trong khu vực này chọn làm nơi cư trú không có quy luật, thường là theo hướng
t
ây hoặc
t
ây
n
am hoặc
t
ây
b
ắc, mỗi hướng chiếm tỷ
lệ bằng nhau là 17,39%
, tiếp đến là hướng bắc
chiếm tới
13,40
%
. Các hướng đông, đông nam, đông bắc và nam mỗi hướng chiếm tỷ lệ bằng nhau là 8,69% (
Biểu đồ 3
).
|
|
|
|
Biểu đồ 3.
Hướng cửa hang Hòa Bình và Bắc Sơn ở miền núi Đông Bắc
(Nguồn: Trình Năng Chung)
|
1.3.
Đ
ặc điểm tầng văn hóa
Qua các diễn biến địa tầng của
các di tích
Hòa Bình ở khu vực
này
cho thấy
không có sự cư trú kế thừa giữa văn hóa
Đ
á cũ và
Đ
á mới
.
Phần lớn các di tích Hòa Bình có 1 tầng thuần nhất, có 3 địa điểm có tầng văn hóa hậu kỳ Đá mới ở những lớp văn hóa phía trên.
Tầng văn hóa các di tích Hòa Bình trong khu vực thường không dày lắm, kết cấu bở rời và thường bị xáo trộn. Theo thống kê 9 di tích đã được khai quật và đào thám sát thì tầng văn hóa dày trung bình từ 0,5
-
0,6m. Di tích có tầng văn hóa dầy nhất là Thẩm Hẩu (1,20m), Thẩm Choóng (1,0m) còn lại chỉ dao động từ 0,50
- 0,70m, có di tích chỉ là lớp đất mỏng dày từ Nà Đứa, Nà Luông từ 0,2
- 0,3m.
Qua các diễn biến địa tầng của các di tích Bắc Sơn ở khu vực cho thấy phần lớn các di tích Bắc Sơn có 1 tầng thuần nhất. Có 4 địa điểm có tầng văn hóa hậu kỳ Đá mới, tầng văn hóa thời kỳ lịch sử ở những lớp văn hóa phía trên. Thống kê có 10 di tích tầng văn hóa dày trung bình từ 0,5- 0,6m. Di tích có tầng văn hóa d
à
y nhất là Ngườm Vài (1,80m), Nà Mò (1,10
- 1,20m) còn lại chỉ dao động từ 0,4
- 0,7m.
Vết tích trong các tầng văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn thường là đất sét vôi xen lẫn vỏ nhuyễn thể nước ngọt, xương cốt động vật, than tro và di vật khảo cổ. Trong các di tích Bắc Sơn ở đây số lượng vỏ ốc suối chiếm phần lớn, vỏ ốc núi ít hơn. Một số di tích có sự xuất hiện của càng cua, vỏ trai, trùng trục, hến sông. Đặc trưng về kích thước của các vỏ trai, ốc trong các di tích Hòa Bình nơi đây thường lớn hơn so với di tích Bắc Sơn. Điều này được giải thích các hang động Hòa Bình thường sống cạnh/gần dòng
s
ông Gâm và những chi lưu của nó.
1.4. Di tích động vật, thực vật
1.4.1. Di tích động vật
Trong tầng văn hóa một số di chỉ Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn ở khu vực miền núi Đông Bắc đã tìm thấy xương cốt động vật và vỏ nhuyễn thể.
Trong tầng văn hóa thuộc văn hóa Hòa Bình ở hang Phia Vài đã tìm thấy di cốt của k
hỉ (
Macaca
sp.
A), Khỉ (
Macaca
sp. B), Tê giác (
Rhinoceros sinensis
), Lợn (
Sus scrofa
L.), Nai (
Cervus unicolor
), Hoẵng (
Muntiacus muntjac
), Trâu bò rừng (
Bos
sp.), Voi Châu Á (
Elephas indicus
), Dím (
Hystrix
sp.),
lợn rừng
Sus scorofa
, Dúi (
Rhizomys
sp.), Chuột (
Rattus
sp.) v.v… (Vũ Thế Long và nnk 2006: 50-51).
Tại Hang Dơi, một di tích văn hóa Bắc Sơn điển hình ở Lạng Sơn, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy di cốt của vượn
Hylobates
of concolor
, khỉ Macaca
assamensis
, Macaca
munlata
, Macaca
nenmestrna
, lửng Arctonyx
collari
, tê giác Rhinoceros
sp
., lợn rừng Sus scorofa, hươu Cervus
sp
., nai Rusa
unicolor
, gà lôi Gallus
sp.
.
Dựa vào kết quả phân tích thành phần xương cốt động vật này, các tác giả cho rằng thành phần động vật Hang Dơi giống với động vật tìm thấy trong các di tích Hòa Bình, Bắc Sơn trước kia và động vật đang sống ở vùng núi Bắc Sơn hiện nay. Trong các mẫu này chưa thấy xương động vật thuần dưỡng (Lê Văn Thuế, Vũ Thế Long 1986: 48-50).
Như vậy kết quả giám định di cốt động vật ở Hang Dơi và hang Phia Vài cho thấy, về cơ bản chúng gần gũi nhau, song có sự khác nhau chút ít với thành phần động vật ở Phia Vài bởi sự có mặt của Đười ươi
Pongo
sp
.
, Tê giác
Rhinoceros
sp., Bò rừng Bos sp.
Nhìn chung, trong các di tích tiền sử khu vực này tồn tại quần động vật hiện đại, xương cốt động vật chưa hóa thạch, phần lớn bị đập vỡ, thải ra sau khi ăn thịt và tủy, đó là sản phẩm của săn bắt.
Số lượng di cốt động vật trong các hang động thời này còn lại không nhiều, hầu hết bị đập vỡ, đôi khi có vết cháy qua lửa. Số lượng cá thể trong một loài không tập trung cao, mỗi loài đôi khi chỉ có một vài cá thể.
Trong số di cốt này không có động vật thuần dưỡng. Trong các di tích Hòa Bình, Bắc Sơn phần đông các loài động vật ngày nay vẫn tồn tại.
Trong các mẫu này chưa thấy xương động vật thuần dưỡng.
Những giống loài động vật do cư dân sơ kỳ Đá mới Việt Nam săn bắt được, về cơ bản không khác gì giống loài động vật hiện đang tồn tại ở vùng núi Bắc Việt Nam ngày nay. Thành phần động vật hiện còn trong các hang động tiền sử vùng Đông Bắc cho thấy, cư dân tiền sử mới chỉ khai thác một phần nhỏ giống loài động vật xung quanh họ (Lê Văn Thuế, Vũ Thế Long 1986: 48-50; Vũ Thế Long và nnk 2006: 47-49).
Trong tầng văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn thường gặp vỏ các loài nhuyễn thể. Phần lớn là loài nhuyễn thể sống trong môi trường sông suối, ít loài sống trên cạn. Ở địa điểm hang Phia Vài, Đán Cúm, Núi Bút, Thẩm Choóng, Thẩm Hẩu, Khuổi Nấng v.v.., đã tìm thấy ốc núi miệng tròn
Cyclophorus fulguratus
, ốc núi thân dài
Hybocystis crossei
, ốc vặn thân dài
Antimelania
sp. Ngoài các loài kể trên trong các di tích văn hóa Hòa Bình còn gặp các loài trai, trùng trục, ngao sống trong các đầm hồ, sông nước và loài ốc núi miệng hẹp
Camaena vayssierei
sống trong khe núi đá vôi.
Có thực tế là trong các hang động Hòa Bình ở vùng núi Đông Bắc rất hiếm những di chỉ mà ở đấy gặp tầng vỏ ốc chất đầy trong tầng văn hóa như vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
1.4.2. Di tích thực vật:
Tại di chỉ hang Ngườm Vài đã tìm thấy 448 vỏ hạt quả thực vật bao gồm: vỏ quả lai, hạt muỗm, hạt trám, hạt ngô cháy, hạt gấc, hạt đào, vỏ bầu, vỏ đậu dại, hạt bí. Điều đáng tiếc hầu hết các loại hạt quả trên tìm thấy trong lớp văn hóa xáo trộn (L1-L3), do vậy khó có thể xem chúng là những hạt quả được người Bắc Sơn sử dụng ngoại trừ vỏ hạt của loài
Celtis
sp tìm thấy trong lớp văn hóa Bắc Sơn (Nguyễn Trường Đông, Trình Năng Chung 2017: 29-51).
Kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở các di chỉ Hang Dơi, Phia Điểm và Phai Vệ (Lạng Sơn) cho thấy khu vực này có độ ẩm tương đối cao vì trong phổ phấn tìm được chủ yếu là bào tử của Dương xỉ
(Lygodium
và
Lycopodium sp.)
và phấn hoa của họ Hòa thảo. Thêm
vào đó, các hạt phấn và bào tử phân bố rải rác ở tất cả các lớp, không có sự lắng đọng đặc biệt cũng như sự thay đổi đột biến của phổ phấn nên có thể thấy rằng cổ khí hậu của thời kỳ này không có biến động lớn (Trần Đạt, Đinh Văn Thuận 1985: 50-51; Nguyễn Mai Hương, Phan Thanh Hải 2008:15-26).
Qua các dẫn liệu thống kê trên cho thấy những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa các di tích Hòa Bình, Bắc Sơn về phân bố, cư trú và quần động, thực vật trong đó tính tương đồng là chủ yếu.
2.
Mối tương quan văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn qua tổ hợp di vật
Người Hòa Bình, Bắc Sơn vùng miền núi Đông Bắc để lại trong tầng văn hóa chủ yếu là công cụ đá, còn lại các loại công cụ làm từ xương, vỏ nhuyễn thể rất ít do bị phân hủy. Thống kê 6 di tích Hòa Bình và 6 di tích Bắc Sơn đã được khai quật cho thấy di vật đá chiếm trên 95% (Hòa Bình), 94% (Bắc Sơn), số còn lại là những công cụ làm từ những vật liệu xương, sừng và đồ gốm.
Việc xem xét mối tương quan giữa văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn khu vực miền núi Đông Bắc dựa trên cơ sở so sánh nguồn nguyên liệu, chất liệu đá, về loại hình công cụ và kỹ thuật chế tác đá.
2.1. Nguyên liệu
Cư dân Hòa Bình và Bắc Sơn
thường sử dụng cuội sông, suối để chế tác công cụ. Những viên cuội này có khá nhiều ở các dòng sông, khe suối, chúng đã được nước mài mòn, có kích thước và hình dáng khác nhau.
Người Hòa Bình đã lựa chọn những viên cuội cứng, vừa tay cầm, có hình dáng, chất liệu thích hợp cho từng loại công cụ định chế tác. Về chất liệu đá, đó là những viên cuội cứng và dẻo, khi vỡ thường cho cạnh sắc.
Phân loại chất liệu 5.528 tiêu bản từ 5 sưu tập di vật đá tiêu biểu (Phia Vài, Thẩm Choóng, Núi Bút, Khuổi Nấng, Thẩm Hẩu) cho thấy, basalt chiếm số lượng lớn nhất (42,54%), rhyolite (19,86%), đá quartz (17,74%), còn các loại đá khác chiếm 19,93%. Thống kê cho thấy có những điểm gần đồng nhất với chất liệu đá basalt chiếm phần lớn. Đáng chú ý là loại đá granite trong các sưu tập này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nhóm các loại đá khác. Loại nguyên liệu đá vôi chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong các bộ sưu tập.
Khảo sát 3 di tích Bắc Sơn tiêu biểu: Ngườm Vài, Pắc Tà và Hang Ốc
cư dân ở 3 di tích trên sử dụng 3 nhóm đá chính:
- Nhóm đá phun trào: bao gồm các chất liệu basalt, diabaz, granite, dacit và thủy tinh núi lửa. Nhóm đá này chủ yếu được sử dụng để chế tác công cụ hạch và công cụ mảnh.
- Nhóm đá biến chất - quartz: bao gồm đá quartzite, bán quartzite và quartz. Trong đó, đá quartzite và bán quartzite được sử dụng làm công cụ, còn đá quartz ở dạng các mảnh vỡ là nhiều, ít được dùng làm công cụ.
- Nhóm đá trầm tích: tuyệt đại đa số các chất liệu đá trong nhóm này được dùng để làm bàn mài, hòn mài, hòn nghiền và dấu Bắc Sơn. Thành phần chủ yếu là cát và sét, kết lại với nhau thành các loại đá cát kết, sét kết.
Trong các loại đá trên, nhóm đá
basalt, diabaz, quartzite được sử dụng nhiều,
các loại đá
granite,
dacit,
rhyolite
và dacit phiến đều có tỷ lệ thấp nhất.
Điểm đáng lưu ý ở đây là sự có mặt của đá trầm tích silic và đá vôi được dùng làm công cụ, nhưng cũng với tỷ lệ rất nhỏ. Đây là sự
khác biệt nhỏ giữa kỹ nghệ Bắc Sơn và kỹ nghệ Hòa Bình.
2.2. Loại hình
2.2.1. Loại hình truyền thống (kiểu Sơn Vi)
+ Khi nghiên cứu các bộ sưu tập Hòa Bình miền núi Đông Bắc cho thấy trong tổ hợp nhóm công cụ truyền thống như những công cụ kiểu Sơn Vi chiếm tỷ lệ như sau: Đán Cúm 17,50%, Phia Vài 17,19%, Núi Bút 11,90%, Khuổi Nấng 9,81%, Thẩm Chóong 7,38%.
+ Trong 6 sưu tập Bắc Sơn: Ngườm Vài, Hang Ốc, Pắc Tà, Nà Mò, Hang Thắm loại công cụ truyền thống chiếm tỷ lệ lần lượt là: 12,07%, 10,01%, 12,10%, 11,75%, 4,75%.
Như vậy tỷ lệ công cụ truyền thống trong sưu tập Hòa Bình có lớn hơn một chút so với Bắc Sơn.
2.2.2. Loại hình kiểu Hòa Bình - Bắc Sơn
+ Khi nghiên cứu các bộ sưu tập Hòa Bình miền núi Đông Bắc cho thấy trong tổ hợp nhóm công cụ Hòa Bình - Bắc Sơn chiếm tỷ lệ như sau:
+ Trong 6 di tích văn hóa Hòa Bình được khai quật và chỉnh lý tỷ lệ loại hình công cụ Hòa Bình - Bắc Sơn có tỷ lệ: Thẩm Hẩu: 13,71%, Đán Cúm 10,61%, Phia Vài 6,79%, Núi Bút 6,47%, Thẩm Chóong 5,52%.
+ Khi nghiên cứu 6 bộ sưu tập Bắc Sơn cho thấy trong nhóm công cụ kiểu Hòa Bình - Bắc Sơn
chiếm tỷ lệ: Ngườm Càng 16,05%, Nà Mò 14,09%, Hang Thắm 14,08%, Pắc Tà 3,82%, Ngườm Vài 1,77%, Hang Ốc 0,92%.
So sánh tỷ lệ thống kê trên cho thấy trong nhóm sưu tập Hòa Bình, tỷ lệ nhóm công cụ kiểu Hòa Bình - Bắc Sơn cao hơn nhóm sưu tập Bắc Sơn.
2.2.3. Loại hình công cụ mảnh lớn
+ Khảo sát 2637 hiện vật đá từ 4 địa điểm Hòa Bình cho thấy loại công cụ mảnh là: Đán Cúm (1205), Phia Vài (606), Thẩm Chóong (506) và Khuổi Nấng (390), thì tỷ lệ loại hình công cụ mảnh lớn trong các sưu tập như sau: Đán Cúm 25,22% (304/1205), Phia Vài 15,18% (92/606), Khuổi Nấng 8,20% (32/390).
+ Khảo sát 4.419 di vật từ 6 địa điểm Bắc Sơn
cho thấy loại công cụ mảnh lớn là: Nà Chảo 27,41%,
Ngườm Vài 26,30%, Hang Ốc 6,19%, Pắc Tà 8,29%, Hang Thắm 10,76%, Nà Mò 10,72%.
So sánh tỷ lệ thống kê trên cho thấy trong nhóm công cụ mảnh lớn là tương đương nhau trong cả hai sưu tập Hòa Bình và Bắc Sơn.
2.2.4. Loại hình công cụ mảnh tước
:
+ Trong số hơn 1.502 công cụ có gia công được khảo sát từ 6 sưu tập Hòa Bình: Đán Cúm, Phia Vài, Núi Bút, Khuổi Nấng, Thẩm Choóng, Thẩm Hẩu mới chỉ phát hiện được 32 công cụ mảnh tước có tu chỉnh ở rìa lưỡi, chiếm tỷ lệ rất thấp 2,13%.
+
Khảo sát 1.996 công cụ có gia công từ 3 địa điểm Bắc Sơn
cho thấy loại công cụ mảnh tướclà:
Ngườm Vài 34,51%, Hang Ốc 43,74%, Pắc Tà 39,25%.
Số liệu thống kê trên cho thấy, loại công cụ được gia công từ mảnh tước chiếm tỷ lệ lớn trong các sưu tập Bắc Sơn. Đây là sự khác biệt khá lớn cần chú ý.
2.2.5. Nhóm công cụ mài
+ Điều đáng ghi nhận là trong 21 di tích Hòa Bình ở miền núi Đông Bắc rất hiếm tìm thấy rìu mài lưỡi kiểu rìu Bắc Sơn và dấu Bắc Sơn trong địa tầng sơ kỳ Đá mới.
Ở Phia Vài tìm thấy bôn đá mài nhẵn thuộc mộ thời Kim khí. Ở Núi Bút có 1 bàn mài, ở Khuổi Nấng có 1 bàn mài, ở Thẩm Hẩu có 3 rìu mài, 1 bôn mài nằm trong mộ thuộc hậu kỳ Đá mới. Nhìn chung kỹ thuật mài ít phát triển trong các di tích Hòa Bình nơi đây.
+ Khảo sát từ 6 địa điểm Bắc Sơn
cho thấy loại rìu mài Bắc Sơn và dấu Bắc Sơn là:
Ngườm Vài 13 chiếc rìu, 58 dấu Bắc Sơn, 79 bàn mài; Hang Ốc có 15 rìu, 72 dấu Bắc Sơn, 72 bàn mài; Nà Chảo có 7 rìu và 4 dấu Bắc Sơn; Nà Mò có 2 rìu, 13 dấu Bắc Sơn; Hang Thắm có 2 rìu, 3 dấu Bắc Sơn; Pắc Tà có 10 dấu Bắc Sơn, 16 bàn mài.
Có 5 địa điểm chỉ có dấu Bắc Sơn và 7 địa điểm chỉ tìm thấy rìu Bắc Sơn.
Loại hình rìu Bắc Sơn và dấu Bắc Sơn thực sự là loại di vật đặc trưng của văn hóa Bắc Sơn, được xem như “nguyên tử đánh dấu”, tạo sự khác biệt giữa văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn.
+ Nhóm công cụ cuội nguyên không qua chế tác như bàn nghiền, chày nghiền, nhóm mảnh tước, đá nguyên liệu, đá có vết ghè khá tương đương về tỷ lệ trong các bộ sưu tập Hòa Bình và Bắc Sơn.
2.3. Kỹ thuật chế tác công cụ
Khi nghiên cứu so sánh về mặt kỹ thuật chế tác công cụ giữa cư dân Hòa Bình và người Bắc Sơn ở vùng miền núi Đông Bắc cho thấy:
- Kỹ thuật mài kém phát triển trong các di tích Hòa Bình, ít hoặc hiếm có rìu mài Bắc Sơn và dấu Bắc Sơn (Trình Năng Chung 2019: 14-32).
- Kỹ thuật mài phát triển trong các di tích Bắc Sơn, hệ quả đi kèm là xuất hiện nhiều rìu mài lưỡi Bắc Sơn và dấu Bắc Sơn.
- Kỹ thuật ghè bổ và tu chỉnh mảnh đá lớn làm công cụ khá phát triển cả trong kỹ nghệ Hòa Bình và Bắc Sơn.
- Kỹ thuật tách mảnh tước trong văn hóa Bắc Sơn rất đa dạng, là sự kế thừa từ kỹ nghệ Ngườm, bao gồm ghè trực tiếp từ hạch cuội tự nhiên và ghè trực tiếp từ quá trình chuẩn bị diện ghè.
- Kỹ
thuật tu chỉnh mảnh tước làm công cụ không phát triển trong văn hóa Hòa Bình, nhưng rất phổ biến trong văn hóa Bắc Sơn (Trình Năng Chung cb 2018; Trình Năng Chung 2020: 24- 41). Kỹ thuật tu chỉnh mảnh tước thành công cụ mảnh trong văn hóa Bắc Sơn cũng là sự tiếp nối từ kỹ nghệ Ngườm. Đây là một trong những tiêu chí kỹ thuật quan trọng giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa sưu tập Hòa Bình và Bắc Sơn.
- Khảo sát bộ sưu tập Phia Vài, một di tích Hòa Bình tiêu biểu cho thấy kỹ thuật ghè hai mặt chiếm 4,28%. Khảo sát các sưu tập Hòa Bình khác như Đán Cúm, Thẩm Choóng,
Núi Bút, Khuổi Nấng, Thẩm Hẩu v.v… chúng ta cũng thấy kỹ thuật ghè đẽo hai mặt rất thấp.
Khảo sát bộ sưu tập Hang Ốc, một di tích Bắc Sơn tiêu biểu cho thấy kỹ thuật ghè hai mặt 22,10%. Khi nghiên cứu các sưu tập Bắc Sơn khác như Ngườm Vài, Pắc Tà, Ngườm Càng, Kim Sơn v.v… chúng ta thấy tỷ lệ công cụ ghè hai mặt gần tương đồng với sưu tập Phia Vài. Điều này cho thấy thủ pháp ghè hai mặt cũng tạo nên sự khác biệt giữa Hòa Bình và Bắc Sơn.
3. Nhận xét
Mối quan hệ Hòa Bình - Bắc Sơn ở vùng núi Đông Bắc được xem xét dưới góc độ không gian và thời gian, đặc trưng tổ hợp di vật, đặc thù hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội và văn hóa tinh thần. Trước hết cần đề cập đến cách thức cư trú và kiếm sống.
- Cả hai cư dân đều là những người cư trú trong các hang động, mái đá, người Hòa Bình còn cư trú trên những thềm sông cổ, triển khai các hoạt động tìm kiếm thức ăn trong các thung lũng đá vôi, các cư dân chủ yếu sống bằng săn bắt và hái lượm. Đối tượng chủ yếu của họ là các loài thú nhỏ và loài nhuyễn thể.
- Một đặc điểm khác cũng rất đáng chú ý là họ đều sử dụng các nguyên liệu cuội tại chỗ để chế tác công cụ; đều sử dụng thủ pháp bổ cuội trong việc pha nguyên liệu. Đặc biệt hơn cả là một số loại hình công cụ trong hai văn hóa là hoàn toàn giống nhau như công cụ hình đĩa, bầu dục, rìu ngắn... Một điểm giống nhau nữa là ở cả hai nơi đều ít sử dụng công cụ xương, đều ít gốm, ít các vật phẩm nghệ thuật. Về hình dáng, kỹ thuật tạo tác ra ba loại hình công cụ bầu dục, rìu ngắn, hình đĩa ít phân biệt rõ rệt, nếu không nói là giống nhau. Điều này cũng ghi nhận sự gần gũi mật thiết giữa hai nền văn hóa. Đó cũng là lý do nhiều người trong đó có chúng tôi thường sử dụng thuật ngữ Hòa Bình - Bắc Sơn để chỉ những loại hình chung đó.
Tuy nhiên trong khu vực miền núi Đông Bắc, giữa hai văn hóa này cũng có những điểm khác biệt cần nhận rõ, điều đó nằm ở tổ hợp công cụ. Qua những phân tích ở phần trên cho thấy việc sử dụng những công cụ từ mảnh tước có kích nhỏ được gia công chiếm tỷ lệ lớn, rìu mài lưỡi, dấu Bắc Sơn cùng với kỹ thuật mài, thủ pháp ghè hai mặt phát triển đã khiến cho kỹ nghệ Bắc Sơn của chủ nhân Bắc Sơn mang đặc trưng riêng, phân biệt với kỹ nghệ Hòa Bình của cư dân văn hóa Hòa Bình.
Từ kết quả nghiên cứu mới về văn hóa Bắc Sơn, khung niên đại của các di tích văn hóa Bắc Sơn được xác định từ 12.000 - 5.000 năm cách nay (Trình Năng Chung 2018: 30-35).
Liên quan đến niên đại là vấn đề nguồn gốc của văn hóa Bắc Sơn. Phần lớn các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng, một trong những cội nguồn chủ yếu của văn hóa Bắc Sơn được nhìn nhận có nguồn gốc từ kỹ nghệ Ngườm. Luận điểm của chúng tôi là ở tầng văn hóa I (lớp trên cùng) ở Ngườm có niên đại
14
C là 17.000 năm cách nay và lớp dưới ở Hang Dơi có thể thuộc vào lớp văn hóa tiền Bắc Sơn, trong quá trình phát triển trong điều kiện môi trường vùng sơn khối đá vôi miền núi Việt Bắc đã nảy sinh ra văn hóa Bắc Sơn (Trình Năng Chung 1991: 20). Như vậy, văn hóa Bắc Sơn có nguồn gốc khác với văn hóa Hòa Bình và người Bắc Sơn đã có mặt ở vùng núi Đông Bắc trước khi cư dân Hòa Bình di chuyển đến.
Căn cứ vào những tài liệu khảo cổ do chúng tôi nghiên cứu, những di tích văn hóa Hòa Bình miền núi Đông Bắc mở đầu khoảng trên dưới 10.000 năm cách nay và kết thúc khoảng 6.000 năm cách nay (Trình Năng Chung 2019: 14 - 32).
Dựa vào hệ thống niên đại tuyệt đối, vào trật tự phát triển văn hóa trong địa tầng khảo cổ có thể giả thiết rằng, sự có mặt của những di tích Hòa Bình trên vùng núi Đông Bắc là kết quả của quá trình chuyển cư của những nhóm cư dân văn hóa tiền Hòa Bình và Hòa Bình trên các thềm sông Hồng, sông Lô trước sự ảnh hưởng
của
những đợt mưa lớn đầu Holocene đã rút về cư trú trong hang động đá vôi của vùng núi Đông Bắc và trên những bậc thềm cao ven sông Gâm. Cũng nhiều khả năng một vài nhóm cộng đồng người Hòa Bình do sức ép của sự tăng dân số và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ nhiều đợt mưa lớn đã tham gia vào quá trình di cư từ vùng đất lõi Hòa Bình, Thanh Hóa lên vùng núi Đông Bắc tìm những không gian mưu sinh mới.
Trước đó, phần lớn địa bàn sơn khối đá vôi miền núi Đông Bắc đã được các chủ nhân văn hóa Bắc Sơn cư chiếm và khai thác.
Văn hóa Bắc Sơn được hình thành một cách độc lập, khác với nguồn gốc của văn hóa Hòa Bình. So với văn hóa Hòa Bình tìm thấy cùng trong khu vực, dường như văn hóa Bắc Sơn được hình thành sớm hơn. Chủ nhân văn hóa Bắc Sơn là những người sớm làm chủ khu vực miền núi Đông Bắc trước khi cư dân Hòa Bình có mặt tại khu vực này (Trình Năng Chung 2020: 24-41). Tuy nhiên, đây mới chỉ là giả thiết công tác, trong tương lai cần có nhiều bằng chứng hơn, đặc biệt là tài liệu về niên đại tuyệt đối.
Về mối quan hệ, có thể, vào khoảng trên dưới 10.000 năm cách nay, tại khu vực miền núi Đông Bắc tồn tại song song hai cộng đồng cư dân Hòa Bình và Bắc Sơn. Sự tiếp xúc giữa hai cộng đồng cư dân đã để lại những tương tác lẫn nhau.
Kỹ thuật mài ra đời sớm trong văn hóa Bắc Sơn đã có ảnh hưởng tới cư dân Hòa Bình, bằng chứng là trong một số di tích Hòa Bình đã tìm thấy bàn mài và rìu mài tuy số lượng rất ít. Và ngược lại, kỹ thuật bổ cuội của người Hòa Bình đã có mặt và phổ biến trong văn hóa Bắc Sơn. Trong khu vực miền núi Đông Bắc, mối quan hệ Hòa Bình và Bắc Sơn là một phức hợp những tác động, những ảnh hưởng qua lại chằng chéo nhau, bổ sung, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
TÀI LIỆU DẪN
NGUYỄN MAI HƯƠNG, PHAN THANH HẢI 2008. Thực vật thời đại Đá mới ở miền bắc Việt Nam:
những dấu vết của nông nghiệp sơ khai. Trong
Khảo cổ học,
số 2: 15-26.
NGUYỄN TRƯỜNG ĐÔNG, TRÌNH NĂNG CHUNG 2017. Ngườm Vài, di chỉ văn hóa Bắc Sơn ở Cao Bằng.
Trong
Khảo cổ học
, số 5: 29-51.
TRẦN ĐẠT, ĐINH VĂN THUẬN 1985. Kết quả phân tích bào tử phấn hoa Hang Dơi (Lạng Sơn). Trong
Những phát hiện mới khảo cổ học năm 1985.
Viện Khảo cổ học, Hà Nội: 5-51.
TRÌNH NĂNG CHUNG (Chủ biên) 2018.
Nghiên cứu các di tích văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn qua
các tài liệu khảo cổ học được phát hiện từ năm 2000 - 2015 ở miền núi Đông Bắc Việt Nam.
Đề tài
cấp Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.
TRÌNH NĂNG CHUNG 2018. Góp bàn về khung niên đại văn hóa Bắc Sơn. Trong
Khảo cổ học
, số 5: 30-35.
TRÌNH NĂNG CHUNG 2020. Văn hóa Bắc Sơn, những kết quả nghiên cứu mới. Trong
Khảo cổ học
, số 3: 24-41.
RELATIONSHIP BETWEEN HÒA BÌNH AND BẮC SƠN CULTURES IN NORTHEASTERN MOUTAINOUS AREA IN VIỆT NAM
TRÌNH NĂNG CHUNG
The relationship between the Hòa Bình and
Bắc Sơn
Neolithic
cultures have been s
till a topical issue of Vietnamese archaeology. Based on the comparison of the two cultures through the statistics of the distributive features, settlement locations, cultural strata, raw materials, types, making techniques of the assemblages of the artifacts, the author give some comments on the relationship between the Hòa Bình and Bắc Sơn cultures in the Northeastern mountainous area:
- The
Bắc Sơn
culture was formed independently, different from the origin of the Hòa Bình culture. As compared with the Hòa Bình culture discovered in the Northeastern area, the Bắc Sơn culture was earlier formed. The owners of the Bắc Sơn culture are those who quickly became the master of the Northeastern mountainuos area before the appearance of the Hòa Bình-culture inhabitants in this area.
- The industries for making stone tools of the two cultures have many common but also different characteristics. The main difference is that the technique for amendment of the flake tools, for chopping two faces, for grinding and the type of "Bắc Sơn mark" was more developed in the Bắc Sơn industry.
The Hòa Bình and Bắc Sơn cultures were interactively affected, complemented and improves by each other
.