TƯỢNG THỜ PO KLONG GARAI: TƯ LIỆU VÀ NHẬN THỨC
Đầu năm 2024, pho tượng vua Po Klong Garai trong ngôi đền chính của di tích quốc gia đặc biệt Tháp Po Klong Garai (tại phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận) đã được công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ. Theo hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, tượng Po Klong Garai thể hiện hình ảnh Thần - Vua đặc biệt của nghệ thuật Champa, có niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVII. Hiện vật là pho tượng thờ trong ngôi đền chính của khu đền tháp Po Klong Garai được xây dựng vào khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV (Cục Di sản văn hóa 2024). Qua nhiều năm nghiên cứu lịch sử kiến trúc và nghệ thuật Champa, chúng tôi nhận thấy hai nhận định trên của Cục Di sản văn hóa là có cơ sở thực tế, phù hợp với những phân tích và kết luận của những nhà nghiên cứu.
Cho đến nay, truyền thuyết và niềm tin của cộng đồng người Chăm trong khu vực vẫn cho rằng vật thờ bằng đá dưới hình thức một Mukhalinga (linga có hình đầu thần Siva) trong ngôi tháp chính của khu đền tháp chính là tượng vị vua Po Klong Garai (theo Biên niên sử Hoàng gia Chăm, trị vì từ năm 1151 đến năm 1205, đóng đô tại thành Bal Hangow) (Aymonier 1891: 151). Về điều này, ngay từ đầu thế kỷ XX, ông H. Parmentier đã nhận xét và mô tả như sau: “Thần tượng là một bộ Mukhalinga đẹp và còn được giữ gìn hoàn hảo. Trên cái linga kích thước lớn, tách ra cái đầu và cổ của vị thần. Vị thần có khuôn mặt thanh tú, có bộ ria thưa, chòm râu nhọn và đôi mắt hơi xếch về phía mang tai. Đầu thần đội một chiếc mũ trụ có miện tròn, ở giữa hơi mở rộng ra và được trang trí bằng một băng nhỏ các hình hoa bốn cánh. Chiếc miện này không có miếng che trán, ở đó, lộ ra những lọn tóc được tết rất tỉ mỉ. Vị thần đeo ở trên ngực một vòng cổ có những trang sức các hình hoa bốn cánh như trên chiếc miện. Dái tai căng dài đeo bảo thạch hình quả trứng nhọn.” (Parmentier 1918: 88-89). Đúng như H.Parmentier đã khẳng định, xét về hình dáng, cấu tạo và chức năng tôn giáo của hiện vật (gồm chiếc bệ Yoni hình chữ nhật dài 1,47m, rộng 0,94m và cao 0,24m và Linga với chiếc đầu người nhô ra), tượng thờ vua Po Klong Garai là một vật thờ quan trọng của Hindu giáo dưới hình thức biểu tượng là Mukhalinga.
Theo quan niệm truyền thống của Hindu giáo, Linga là một biểu tượng phi nhân dạng đánh dấu sự hiện diện của thực thể trừu tượng, linh thiêng và không thấy được của thần Siva thông qua hình dạng và ý nghĩa của biểu tượng sinh thực khí. Và, như đã được thánh thức hóa, hình sinh thực khí của Linga thường được thể hiện gồm ba phần tượng trưng cho nguyên lý Samsara (luân hồi) về chu trình sinh - trụ - diệt bất tận của vũ trụ: phần vuông bên dưới là thần Sáng tạo Brahma tượng trưng cho sự sinh thành, phần bát giác ở giữa là thần Bảo tồn Visnu tượng trưng cho sự tồn tại và phần trụ tròn trên cùng là thần Phá hủy Siva tượng trưng cho sự hủy diệt. Ý nghĩa về sức mạnh tối thượng mang tính vũ trụ quan rất đặc trưng này của thần Siva đã thường xuyên được lý giải trong những truyện thần thoại của Ấn Độ cổ đại. Trên cơ sở những nguồn tài liệu khác nhau, các nhà nghiên cứu cho rằng, thoạt đầu, ở Ấn Độ, hình tượng Linga được thể hiện (bằng đá, gỗ và kim loại) như cái cột đầu tròn mô phỏng khá hiện thực hình thù của một sinh thực khí. Chỉ từ thời kỳ các vương triều Kushan (thế kỷ I-III), ở miền Bắc Ấn Độ, các mặt người được bổ sung vào hình tượng Linga, và, từ đấy, những Linga có mặt người được gọi là Mukhalinga. Số lượng các khuôn mặt được gắn vào Linga thường có số lượng là 1, 3, 4 hoặc 5 và, tương ứng với các con số này, là tên gọi của các mukhalinga: Ekamukhalinga (Linga có một khuôn mặt), Trimukhalinga (Linga có ba khuôn mặt), Chaturamukhalinga (Linga có bốn khuôn mặt) và Panchamukhalinga (Linga có năm khuôn mặt). Sang thời kỳ các vương triều Gupta (thế kỷ IV-VIII) và sau đó, các Mukhalinga bằng đá và kim loại phổ biến khắp Bắc Ấn Độ. Và, ngay tại Ấn Độ, đã hình thành một khuôn mẫu cho việc thể hiện các Mukha: cái đầu hay khuôn mặt được tạc từ cổ trở lên mang tất cả những đặc trưng của thần Siva: ria mép lớn, có thể có râu, con mắt thứ ba ở trán, đội vương miện (Banerjea 1956; Gupte 1980).
Nguồn bài viết: Tạp chí Khảo cổ học, số 3/2025: 93-98
Đỗ Trường Giang, Ngô Văn Doanh