image banner
VI | EN
KIẾN TRÚC HỐ THIÊNG TRONG NỀN MÓNG ĐỀN THÁP CHAMPA VÀ ÓC EO

D ẫn luận

Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, văn hóa Champa ở Trung Bộ và văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ Việt Nam là hai nền văn hóa có mối quan hệ với văn minh Ấn Độ, trong đó, tôn giáo là tiêu biểu. Nhiều công trình kiến trúc đền tháp được hai nhóm cư dân cổ xây dựng. Theo quy chuẩn xây dựng kiến trúc Bà La Môn giáo, “hố thiêng” là một phần quan trọng trong kết cấu của đền tháp. Hố thiêng là tên gọi để chỉ một di tích có bình đồ vuông hoặc chữ nhật nằm trong lòng nền móng đền tháp; vách hố có thể được xây bằng gạch và lấp đầy bởi cát sạch, đá, gạch... Tại đây có thể tìm thấy nhiều hiện vật là “vật thiêng thánh hiến” bằng đá quý, vàng, bạc… với các hình khắc miết thể hiện các biểu tượng tôn giáo. Trước đây, hố thiêng được phát hiện tại nhiều di tích và có nhiều tên gọi khác nhau, như “hộp vuông”, “kiến trúc hình vuông”, “giếng vuông”, “hố chứa kho thiêng”.

Từ các mô tả chi tiết kiến trúc “hố thiêng” và vị trí phát hiện các vật thiêng qua công tác khai quật khảo cổ học tại các đền tháp thuộc vương quốc cổ Champa, Óc Eo thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay, kết hợp với những văn bản cổ của Ấn Độ, bài viết phân loại các kết cấu trong lòng hố thiêng, làm rõ chức năng, ý nghĩa của loại hình di tích này trong lòng đền tháp. Ngoài ra, những phát hiện về hố thiêng ở các quốc gia Đông Nam Á cũng bước đầu được đề cập và xem xét, qua đó có một cái nhìn rõ nét hơn về sự tương tác văn hóa, nghệ thuật tôn giáo trong khu vực.

1. Các nghi thức liên quan đến việc hình thành “hố thiêng” trong kiến trúc Ấn Độ giáo

Tại Ấn Độ, h ai nghi thức quan trọng nhất trong xây dựng một công trình kiến trúc đền tháp là đặt viên gạch đầu tiên ( prathamestaka hay adyestaka) và đặt kho thiêng (g arbhanyssa hay garbhadhana ). Có nhiều văn bản khác đề cập đến các nghi thức xây dựng đền thờ được gọi là vastu - sastra , silpa - sastra puranas ( Slaczka 2007) . Tuy nhiên, bằng chứng khảo cổ học cho thấy việc thực hiện các nghi thức này hiếm khi xảy ra ở Ấn Độ thời cổ trung đại. Ngược lại, ở các khu vực chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ như Champa, Óc Eo - Phù Nam (Việt Nam), Sri Vijaya (Indonesia), Dvaravati (Thái Lan) lại có nhiều phát hiện khảo cổ học và tư liệu. Nội dung bài viết này dựa trên văn bản quan trọng nhất - Kasayapasilpa - đồng thời chúng tôi cũng tham khảo một vài văn bản cổ về nghi thức xây dựng đền tháp như Hayasirsa Pancaratra, Agni Purana, Somasambhupaddhati . Kasayapasilpa phổ biến ở Nam Ấn, hoàn thiện vào thế kỷ XI - XII nhưng những chủ đề sơ khởi trong chuyên luận này có niên đại từ thế kỷ VI hoặc sớm hơn (Slaczka 2011: 436) .

1.1. Nghi thức đặt viên gạch đầu tiên

Nếu sử dụng đá thì nghi thức này còn được gọi là nghi thức đặt viên đá đầu tiên. Người xưa dùng chính những viên gạch nguyên, không sứt mẻ, dùng trong xây dựng đền tháp để thực hiện nghi thức thiêng này. Nhiều phát hiện cho thấy hình thức sử dụng bốn viên gạch nhưng trong một vài trường hợp thì số lượng các viên gạch là không giống nhau. Thông thường, số lượng các viên gạch là bốn, năm, chín (Revire 2015: 180) . Số lượng các viên gạch đại diện cho các vật chất tạo dựng nên ngôi đền tháp, bao gồm: đất, lửa, nước, gió/không khí và các vật chất khác.

Đây là nghi thức đặt các viên gạch tạo thành một khối trụ có một khối trống ở giữa tại vị trí trung tâm của phần âm nền móng đền tháp. Nghi thức này được thực hiện tại nhiều kiến trúc, bao gồm đền tháp chính, đền tháp phụ, tháp cổng, tường bao. Trước tiên, người ta đào một hố móng với độ sâu phụ thuộc vào loại đất nơi kiến trúc tôn giáo được xây dựng. Các viên gạch “nam tính” 1 có cùng chất liệu với những viên gạch được lựa chọn sử dụng trong xây dựng bản thân ngôi đền tháp đó. Chiều rộng của các viên gạch bằng một nửa chiều dài và độ dày của viên gạch bằng một nửa chiều rộng (Slaczka 2007: 174) . Khoảng trống giữa khối trụ gạch sẽ là nơi đặt những loại đá quý hay các lá vàng miết khắc nhiều chủ đề tôn giáo.

Có nhiều nghi lễ được tiến hành cùng với nghi thức đặt viên gạch đầu tiên: Xoa những viên gạch với phân của bò, buộc các sợi dây bảo vệ ( pratisara ) xung quanh, viết các chữ cái của bốn yếu tố (đất, lửa, nước và gió). Sau đó là nghi lễ tiến hành đặt chín chiếc lọ đại diện cho các vị thần ( kalasasthapana ), vị thần chính ở lọ trung tâm và tám lọ đại diện cho các vị thần phương hướng ( lokapalas, ratnanyasa ) được đặt xung quanh. Cuối cùng, hố móng được lấp đầy bằng cát/sỏi. Ngoài trung tâm của hố móng, vị trí thiết đặt những viên gạch đầu tiên còn được ghi nhận tại bên phải hoặc phía nam của lối ra vào, bên trong bức tường của hố móng (Slaczka 2007: 173, 176) .

Số lượng các vị thần phương hướng Ấn Độ thường có số lượng là sáu, tám hoặc chín vị thần, trong đó phổ biến nhất là tám vị thần phương hướng. Nhiều khi nghi thức đặt các vị thần phương hướng được hiểu như là một bộ phận của nghi thức đặt kho thiêng. Tiến hành nghi thức đặt các vị thần phương hướng là sự mong muốn sự bảo vệ từ các vị thần cho vùng đất được xây dựng đền tháp. Theo Bhatt (1993: 75) mỗi chiếc bình chứa đựng các hiện vật quý tượng trưng cho vị thần, mà chiếc bình như “thể xác” của thần, nước như máu, các sợi chỉ buộc xung quanh như các mạch máu, các viên đá quý bên trong như xương và các câu thần chú mang lại sự sống, linh hồn. Có nhiều vật thiêng thánh hiến mang biểu trưng của tám vị thần như tám vật thiêng gắn với các vị thần, tám loại bột, tám loại ngũ cốc, tám loại kim loại. Để biết chi tiết về các vật biểu trương đại diện cho các vị thần phương hướng trong Ấn Độ giáo, có thể tìm hiểu thêm tại Dikshitar (1995: 269).

Các văn bản cổ Ấn Độ không cung cấp ý nghĩa rõ ràng của nghi thức đặt viên gạch đầu tiên. Có lẽ nghi thức này tương tự như nghi thức mở mắt cho những viên gạch ( nayanonmilana ) để thần thánh hóa, cung cấp sức mạnh cho vật liệu chính xây dựng đền tháp Slaczka (2007: 217-219) cho rằng nghi thức đặt viên gạch đầu tiên nằm trong một chuỗi nhiều hoạt động nhằm “linh thiêng hóa” kiến trúc tôn giáo: từ một mảnh đất đơn thuần đến một vùng đất linh thiêng để xây dựng đền tháp; từ một công trình bằng gạch đá đơn thuần trở thành nơi cư ngụ của thần hay chính là cơ thể của thần.

1.2. Nghi thức đặt kho thiêng

Trong kết cấu đền tháp, ba khu vực phát hiện những hiện vật quý liên quan tới vật thiêng thánh hiến là: (i) nền móng đền tháp, (ii) bên dưới tượng thờ chính trong thánh điện và (iii) khoang trống trên mái đền tháp . Vào những ngày cúng tế, chiếc hộp được đặt trong khu vực trung tâm của nền móng đền tháp là nơi xuất hiện vị thần “tạm”, vị thần vĩnh cửu thì xuất hiện trên đỉnh của đền tháp (Soekmono 1995: 14-15). Cùng với nghi thức đặt viên gạch đầu tiên, nghi thức đặt viên gạch trên đỉnh (murdhestakanyasa) và nghi thức đặt kho thiêng là ba nghi thức quan trọng bậc nhất trong xây dựng đền tháp.

Nghi thức đặt kho thiêng có tầm quan trọng đặc biệt với một kiến trúc đền thờ tôn giáo, là nghi thức đặt chiếc hộp có nhiều ngăn ở phía dưới nền móng đền tháp. “Kho thiêng thánh hiến là một nguồn sinh khí. Không ai vào trong một ngôi đền tháp mà không có kho thiêng, dù chỉ một lần. Ta và chư thần sẽ không ở lại trong một ngôi đền mà không có một kho thiêng. Vì vậy, nghi thức đặt kho thiêng phải được tiến hành chu đáo. Kho thiêng sẽ ban tặng phúc lộc cho chúng sinh, ngược lại (không có kho thiêng) tai họa sẽ xảy ra” (Võ Văn Thắng 2013: 26) .

Slaczka (2007 : Appendix 2) liệt kê có 25 phiên bản được tìm thấy ở Ấn Độ đề cập đến nghi thức đặt kho thiêng thánh hiến. Phần lớn các văn bản mô tả nghi thức này bắt nguồn từ phía Nam Ấn Độ. Công năng chính của nghi thức đặt kho thiêng là mang lại sự thịnh vượng, phúc lợi cho mọi người, đặc biệt là tu sĩ, người thực hành nghi lễ và người bảo trợ. Việc thiết đặt này nên được tiến hành vào ban đêm và không nên được thực hiện khi vợ của tu sĩ hoặc vợ của người bảo trợ đang mang thai. Nghi lễ sẽ giúp cho muôn loài sinh sôi nảy nở, cây trái đâm hoa kết quả, mưa thuận gió hòa (Slaczka 2007: 203). Ngoài ra, đặt kho thiêng còn được hiểu là truyền “cuộc sống” ( jiva ) hoặc “hơi thở cuộc sống” ( prana ) cho ngôi đền tháp. Nếu không thực hiện nghi thức này sẽ dẫn đến sự phá hủy “tất cả mọi thứ” như kiến trúc, đất đai và cả người bảo trợ (Slaczka 2007: 201-203 ; 2011: 437) .

Kho thiêng thường là một chiếc hộp nhiều ngăn (a compartmented box) chứa đầy những hiện vật thiêng thánh hiến, là những đồ vật có giá trị, trong đó bao gồm đá quý, kim loại vàng, bạc, ngũ cốc, thảo mộc và đất được lấy từ các địa điểm khác nhau cũng như các biểu tượng đại diện cho vị thần chính của ngôi đền tháp (Slaczka 2011: 436-437) . Chiếc hộp nên được làm từ kim loại, tốt nhất là vàng, bạc, đồng; hoặc các vật liệu khác như đá, đất sét, sò biển. Hình dáng của chiếc hộp không được quy định trong Kasayapasilpa , nhưng nhiều văn bản Nam Ấn xác nhận phải là hình vuông hoặc tròn, trong khi các văn bản Bắc Ấn như Hayasirsa Pancaratra Agni Purana cho rằng nó nên có hình hoa sen ( padmakara ) (Slaczka 2007: 224, 239 ) . Chiếc hộp thường có chín ngăn (xếp thành ba hàng ba) hoặc hai mươi lăm ngăn (xếp thành năm hàng năm), là nơi mà vị thần sẽ trú ngụ. Chiếc hộp có nắp đậy, trải qua nghi thức thanh lọc và được buộc một sợi dây xung quanh cầu mong sự bảo vệ ( kautuka, pratisara ) .

Soekmono (1995: 14) gọi chiếc hộp được phát hiện ở đền tháp Indonesia là “pripih” . Trong một số trường hợp, ở nền móng đền tháp, thay thế cho chiếc hộp là một bức tượng nhỏ (có trường hợp phát hiện được cả hai loại hình: tượng và hộp thiêng). Chiếc hộp là đại diện cho bản chất linh thiêng của vị thần nên nó quan trọng hơn bức tượng, đại diện cho hình dạng bên ngoài (uparni) . Trong nhiều trường hợp, các linga nhỏ cũng được tìm thấy như là vật thay thế cho hộp thiêng.

Tại Indonesia và Malaysia, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều chiếc hộp chứa đựng vật thiêng thánh hiến trong các đền tháp Bà La Môn giáo và Phật giáo (Hình 1). Trong các di tích kiến trúc ở Champa và Óc Eo (Việt Nam) chỉ phát hiện hai chiếc hộp duy nhất ở Gò Cây Tung (ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Hiện vật có ký hiệu BTAG2021/Đ (GCT.94.H1.28), làm từ sa thạch màu xanh xám; có kích thước dài, rộng, dày (13 x 13 x 11.5)cm. Trung tâm là một lỗ hình vuông có kích thước dài, rộng, sâu đều là 6.5cm. Xung quanh lỗ hình vuông đó là 16 lỗ nhỏ có kích thước dài, rộng, sâu lần lượt (1.1 x 1.1 x 0.92)cm. Mặt trên được mài tương đối nhẵn, các mặt xung quanh sần sùi (Hình 2.1) . Hiện vật có ký hiệu BTAG2023/G (GCT.94.H1.29), làm từ chất liệu sét pha cát thô, màu vàng xám có kích thước dài, rộng, cao (18.2 x 18.2 x 7.14)cm. Trung tâm là một lỗ hình vuông có kích thước dài, rộng, sâu (5.5 x 5.5 x 3.6)cm. Xung quang lỗ hình vuông là 12 lỗ nhỏ có kích thước dài, rộng, sâu lần lượt (2.0 x 2.0 x 1.4)cm. Mặt trên nhẵn, một cạnh bên có thể bị vỡ nhẹ (Hình 2.2) .

Picture 16

Picture 7

Hình 1. Hộp thiêng thánh hiến được phát hiện ở

đảo Java, Indonesia

Hình 2. Hộp thiêng thánh hiến phát hiện ở Gò Cây Tung ,

An Giang

(Nguồn: Nguyễn Hữu Mạnh)

(Nguồn: Nguyễn Hoàng Bách Linh)

Hộp chứa vật thiêng được đặt ở bên phải hoặc ở phía N am của cửa đền tháp, k hông có bất kì văn bản cổ nào đề cập đến việc đặt tại vị trí điểm trung tâm của phần âm nền móng đền tháp. Slaczka (2007: 206-239) cố gắng tìm mối liên hệ giữa phát hiện về hộp chứa vật thiêng thánh hiến tại vị trí trung tâm nền móng đền tháp với truyền thống Vệ Đà khi luôn có một vật quý nhỏ được đặt ở vị trí đó. Slaczka (2007) cũng lưu ý rằng ngay cả khi nguồn gốc của nghi thức đặt vật thiêng thuộc truyền thống Vệ Đà thì ý nghĩa của nó chắc chắn thay đổi đáng kể qua thời gian. Trong nhiều thế kỷ, nghi thức đặt vật thiêng đóng vai trò quan trọng, phổ biến và được đề cập trong nhiều văn bản. Tuy nhiên, nghi thức này dần lụi tàn và ngày nay gần như đã biến mất. Lý do cho hiện tượng này là vai trò ngày càng quan trọng của nghi thức đặt viên gạch đầu tiên, hoặc, chi phí cao của việc xây dựng các đền tháp dẫn tới việc cắt giảm các nghi thức, trong đó có đặt kho thiêng (Rao 1994).

Độ sâu của nơi đặt hộp thiêng thánh hiến tùy thuộc vào đẳng cấp của người bảo trợ: với đẳng cấp Bà La Môn, vua, chiến binh và thương nhân thì hộp thiêng thánh hiến   thường được đặt ở trong nền móng đền tháp; với đẳng cấp nô lệ thì hộp thiêng thánh hiến được đặt dưới bệ trụ của kiến trúc ( plinth ) . Nhưng văn bản Kasyapasilpa lại cho biết vị trí đặt hộp chứa vật thiêng thánh hiến dưới nền móng là như nhau với tất cả các đẳng cấp ( Slaczka 2007 : 226) .

Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể phân biệt rõ ràng hai nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng trong nền móng đền tháp vì sự tương đồng về vị trí phát hiện (tại trung tâm của đền tháp) và loại hình vật thiêng (kim loại quý, đá quý). Ngoài ra, hai nghi thức này còn có mối liên hệ với nghi thức đặt các lọ ( kumbha hoặc kumbhasthapana ) tượng trưng cho các vị thần phương hướng. Có nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy sự kết hợp giữa các nghi thức này trong khi xây dựng kiến trúc tôn giáo, ví dụ như văn bản Kasayapasilpa cho biết, sau nghi thức đặt kho thiêng là nghi thức đặt các lọ (Slaczka 2011: 436-437). Tuy nhiên, cũng chính Slaczka (2007: 223) nghi ngờ rằng phải chăng hai nghi thức này được tiến hành đồng thời trong quá trình xây dựng đền tháp.

2. Lịch sử nghiên cứu hố thiêng

Picture 2

Hình 3 . Bản đồ một số di tích tiêu biểu

phát hiện cấu trúc hố thiêng

(Nguồn: Nguyễn Hữu Mạnh)

Vào đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu người Pháp như Parmentier (1909a, 1909b) , Aurousseau (1926a, 1926b) , Claeys (1927, 1928) là những người đầu tiên miêu tả về “ dépôt sacré ” (kho báu thiêng) trong các kiến trúc gạch ở nền móng đền tháp Champa. Nơi phát hiện những vật thiêng thánh hiến này được các nhà khai quật gọi là “hố thiêng” và trở thành tên gọi thống nhất cho các phát hiện tương tự từ trước tới ngày nay trong nền móng đền tháp. Anna Slaczka là người có rất nhiều đóng góp trong nghiên cứu về hố thiêng và những nghi thức liên quan khi xây dựng đền tháp trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Liên hệ với nghiên cứu của Slaczka (2007, 2012), Võ Văn Thắng (2014: 187) công bố một bài viết quan trọng về “hố chứa kho thiêng” tại phế tích đền tháp Phong Lệ (Đà Nẵng), trong đó, nhóm nghiên cứu đã đề cập về những di vật được phát hiện tại hố thiêng. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập về mối quan hệ giữa di vật và hình dáng hố thiêng. Võ Văn Thắng gợi mở rằng những vật quý trong hố thiêng tìm thấy trong các ngôi đền tháp Champa liên quan tới nghi thức thánh hiến trong xây dựng đền tháp. Nội dung những nghi thức này được Slaczka (2007) chuyển ngữ từ Sanskrit sang tiếng Anh và Võ Văn Thắng (2014: 176-178) lược dịch sang tiếng Việt trong nghiên cứu của mình. Gần đây, L ê Thị Liên (2018: 36-51) cũng bước đầu đưa ra những nghi lễ liên quan tới việc xây dựng đền tháp chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ ở Việt Nam.

Nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret (1959: 315) đã tiên phong nêu lên giả thuyết về chức năng các cấu trúc gạch, đá được khai quật trong lòng nền móng đền tháp tại Óc Eo (An Giang). Ông cho rằng chúng có thể là địa điểm thờ cúng hoặc mộ táng. Sau cuộc khai quật di tích Nền Chùa (Kiên Giang) và Óc Eo (An Giang) vào năm 1982 - 1983, dựa vào đặc điểm kiến trúc cùng dấu vết than tro được ghi nhận, chức năng “mộ táng” của những kiến trúc trong lòng nền móng đền tháp được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam. Đặc biệt chức năng “mộ táng trong văn hóa Óc Eo” gồm nhiều loại hình khác nhau đã được trình bày trong luận án Tiến sĩ khảo cổ học của Đào Linh Côn năm 1995 (Đào Linh Côn 1983, 1986, 1995: 70-81; Lê Xuân Diệm 1984; Lê Xuân Diệm và cộng sự 1995: 213-270; Võ Sĩ Khải 1985, 2018: 47; Higham 2001: 29-31). Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, đây là cấu trúc “hố thờ” của kiến trúc ảnh hưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo (Hà Văn Tấn (cb) 1999; Le Thi Lien 2006, 2007, 2011, 2018; Slaczka 2007, 2011; Đặng Văn Thắng 2017)... vv ( Hình 3 ).

3. Những phát hiện về hố thiêng trong lòng đền tháp Champa và Óc Eo

Đền tháp chịu ảnh hưởng từ nền văn minh Ấn Độ thường được hiểu là một tiểu vũ trụ gồm ba “thế giới thiêng” tương ứng với ba bộ phận của đền tháp:

- Hạ giới ( bhurloka - nền móng đền tháp): Thế giới của người phàm trần;

- Trung giới ( bhuvarloka - thân đền tháp): Tượng trưng cho nơi con người có thể tiếp xúc với thế giới thần linh;

- Thiên giới hoặc thượng giới ( svarloka - mái đền tháp): Nơi các vị thần trú ngụ.

Một trục thiêng xuyên qua điểm trung tâm của đền tháp giúp kết nối ba thế giới thiêng, thường được gọi là trụ thiêng hoặc trụ giới. Điểm trung tâm có vai trò quan trọng, nơi tập trung mọi sức mạnh siêu nhiên. Do đó, mặt bằng đền tháp được xây dựng dựa điểm trung tâm này (Hardy 2007; Ramelan 2015: 4-5). Đây cũng là vị trí mà người xưa xây dựng các kiến trúc chứa đựng vật thiêng thánh hiến liên quan tới nghi thức đặt viên gạch đầu viên và đặt kho thiêng (Hình 4).

Qua các phát hiện và nghiên cứu về kiến trúc tôn giáo trong văn hóa Champa và Óc Eo, cấu trúc hố thiêng được nhận diện với hai hình thức chính:

- Hố thiêng có bình đồ hình vuông hoặc hình chữ nhật với vách xây bằng gạch, tìm thấy tại nhiều địa điểm như Trà Kiệu (Quảng Nam), Hòa Lai (Ninh Thuận), Gò Thành (Tiền Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Óc Eo - Ba Thê (An Giang), Nền Chùa (Kiên Giang), Chùa Lò Gạch (Trà Vinh) và Gò Xoài (Long An)…vv. Trung tâm hố thiêng là một trụ/ô xây bằng gạch, hộc vuông xây bằng gạch đá hỗn hợp (Phật Nổi 3 - Nền Chùa) hay xếp bằng gỗ (Phật Nổi 1 - Nền Chùa). Đáng chú ý, có di tích với hố thiêng gồm một ngăn hình vuông ở trung tâm và bốn ngăn nhỏ ở bốn cạnh chính hướng Đông, Tây, Nam, Bắc như Gò Thành (Tiền Giang), Chùa Lò Gạch (Trà Vinh).

- Hố thiêng có bình đồ hình vuông hoặc hình chữ nhật, dạng phễu thu nhỏ dần về đáy, vách hố có kết cấu từ nền đất đắp hay đá, cát nện chặt, thường sử dụng đá hoa cương để tạo thành một bề mặt tương đối bên trên. Tìm thấy tại nhiều địa điểm như: Cấm Mít, Phong Lệ (Đà Nẵng), Po Nagar (Khánh Hòa), Đá Nổi (An Giang), Óc Eo - Ba Thê (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp) và Kè Một (Kiên Giang)…vv. Trung tâm hố thiêng là một trụ xây bằng gạch, hộc vuông xây bằng đá hay đơn giản là một lỗ nhỏ được tạo bởi que nhọn như kiến trúc NC.83.NC1 tại Nền Chùa (Kiên Giang).

Picture 43

Picture 42

Hình 4. Đền tháp Indonesia với quan niệm về ba thế giới thiêng

( Nguồn: Ramelan 2015: 4 )

Hình 5. Các dạng kiến trúc trong lòng hố thiêng

1. Trụ gạch; 2. Bốn viên gạch: 2.1. xếp hình chữ Vạn; 2.2. xếp hình khối hộp; 3. Chín viên gạch xếp hình tia mặt trời; 4. Chín viên gạch xếp ba hàng ba (Nguồn: Nguyễn Hữu Mạnh)

Dựa vào số lượng và cách xắp sếp các viên gạch, có thể phân biệt thành các dạng kiến trúc trung tâm trong lòng hố thiêng đền tháp Champa và Óc Eo theo tần suất xuất hiện lần lượt là: (1) trụ gạch, (2) bốn viên gạch, (3) chín viên gạch xếp hình tia mặt trời (4) chín viên gạch xếp ba hàng ba (Hình 5) . Trong văn hóa Óc Eo còn tìm thấy một số loại hình hố thiêng đặc trưng xây bằng gạch với (5) một hộc hình vuông ở trung tâm và bốn hộc nhỏ ở bốn vách chính hướng Đông, Tây, Nam và Bắc ; (6) trụ thiêng xếp bằng gỗ hay là (7) một lỗ tròn nhỏ . Ngoài ra, còn có một dạng hố thiêng rất đặc trưng, chỉ tìm thấy trong nến móng kiến trúc Champa là (8) hố thiêng có các hốc thiêng .

Sau đây là miêu tả về một số di tích phát hiện các kiến trúc trong lòng hố thiêng tiêu biểu:

3.1. Dạng trụ gạch ở trung tâm

Dạng hố thiêng này còn được gọi là trụ thiêng, trụ giới ở trung tâm nền móng kiến trúc, phổ biến nhất trong kiến trúc đền tháp Champa và Óc Eo. Bình đồ của trụ gạch khi nhìn từ trên xuống chúng ta sẽ thấy bốn viên gạch xếp hình chữ Vạn . Trụ gạch được xây từ đáy của nền móng, tạo một khoảng trống ở giữa, được lấp đầy bởi các lớp sỏi nhiều kích cỡ trộn đều với cát sạch hay gạch vụn. Những vật chất này thường được đầm chặt và liên kết với nhau tạo thành một dạng hợp chất rất vững chắc. Bên dưới hỗn hợp vật chất này thường tìm thấy nhiều hạt đá quý, các mảnh lá vàng được khắc miết, than tro, xương mủn? (Hình 5.1).

Cho đến nay, hố thiêng dạng trụ gạch đã được phát hiện tại các phế tích Vân Trạch Hòa, Phú Diên (Thừa Thiên Huế); Cát Tiên gò số 1, 2a, 6a, 6b, 7, 8 (Lâm Đồng); Gò Tháp (Đồng Tháp); Gò Xoài (Long An); Óc Eo - Ba Thê, Gò Cây Thị (An Giang); Giồng Xoài, Nền Chùa (Kiên Giang); Nhơn Thành (Cần Thơ); Gò Thành (Tiền Giang)...vv. Trong đó, những phát hiện tại di tích Đá Nổi (An Giang) là rất điển hình cho loại hình di tích này.

- Đá Nổi : Nằm trên cánh đồng thuộc ấp Hòa Tây B, xã Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Di tích này được biết tới vào năm 1984 và khai quật vào năm 1985. Tại đây, phát hiện được bảy “ngôi mộ hỏa táng” đặc trưng của văn hóa Óc Eo. Các mộ đều có dạng “giếng vuông” và có cấu trúc trung tâm là “một khối trụ vuông bằng gạch”. Trong đó, có hai kiến trúc bị đào phá, hiện vật đã bị lấy đi, chỉ còn năm di tích còn nguyên vẹn và chôn theo 331 hiện vật, trong đó có 317 hiện vật vàng. Đáng chú ý là kiến trúc 85ĐN.M2 có chôn theo một bát hoặc hộp bằng đồng, bên trong chứa một bệ thờ gồm một linga bằng vàng gắn trên bệ bằng đồng (Đào Linh Côn 2008: 156) . Phát hiện tại kiến trúc 85ĐN.M2 giống với nghiên cứu của Soekmono (1995) khi ông cho rằng linga cũng được thiết đặt trong nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng khi xây dựng nền móng đền tháp.

- Vân Trạch Hòa : Là một phế tích đền tháp Champa thuộc địa phận thôn Vân Trạch Hòa, xã Phong Thu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cuộc khai quật khảo cổ học năm 1998 đã làm xuất lộ ba hố thiêng với ba trụ gạch ở trung tâm nền móng của ba đền tháp (Lê Đình Phụng 2017: 89-92) . Tuy nhiên, đáy của trụ gạch ở đền tháp Bắc là bốn viên đá vuông vức, đặt trên nền đá gốc letarite. Bên dưới chính giữa mỗi viên đá đều đặt một lá kim loại màu vàng mỏng.

So sánh với các ghi chép trong văn bản cổ của Ấn Độ, các kiến trúc và những hiện vật đi kèm này rất có khả năng liên quan tới nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng trong xây dựng đền tháp. Slaczka (2007) còn cho biết các nghi lễ liên quan tới lửa hay chôn theo xương động vật cũng được tiến hành trong nền móng của các đền tháp ở Sri-Lanka.

3.2. Dạng bốn viên gạch

Dạng hố thiêng có bốn viên gạch ở chính giữa nền móng được phát hiện tại các di tích Champa, Óc Eo như Đại Hữu (Quảng Bình), Po Nagar (Khánh Hòa), Hòa Lai (Ninh Thuận), Cát Tiên gò số 2b, 3 (Lâm Đồng), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Thành (Tiền Giang), Đá Nổi (An Giang). Trong đó, Hòa Lai (Ninh Thuận) và Po Nagar (Khánh Hòa) là những phát hiện quan trọng, còn nguyên vẹn và chưa bị đào phá.

Những phát hiện trên về bốn viên gạch lại được xếp thành hai dạng chính: Bốn viên gạch xếp thành hình chữ Vạn (Hình 5.2.1) và bốn viên gạch xếp thành khối hộp (Hình 5.2.2) . Bên cạnh đó, một biến thể khác thay cho bốn viên gạch là bốn bình gốm nhỏ tạo thành một khoang rỗng chứa đựng vật thiêng như phát hiện tại di tích Đại Hữu (Quảng Bình).

- Hòa Lai : L à một quần thể đền tháp Champa tọa lạc tại một gò đất cao ở thôn Ba Tháp, xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Trong đợt khai quật năm 2012 - 2013, các nhà khảo cổ đã phát hiện một cấu trúc hố thiêng ở kiến trúc TB.KT6 (phía Nam tháp Bắc), xây âm 11 lớp gạch so với bề mặt kiến trúc, bình đồ hình vuông với cạnh 1.68m, trung tâm có bốn viên gạch xếp nối tạo khối hộp hình vuông, trong lòng được lấp đầy bởi cát trắng mịn (Hình 6) . Bề mặt của hộp gạch là một lá bạc màu trắng xám mỏng cắt hình tam giác cân, ghép với một lá vàng lớn (ghép từ nhiều mảnh vàng nhỏ hơn), có thể tạo thành nắp đậy hình vuông. Quấn bên ngoài xung quanh cấu trúc hộc gạch là một vòng bằng sợi dây bằng vàng và một đai bằng đồng rộng bản buộc móc vào nhau ở một vị trí. Bên dưới gần đáy hộp gạch có xếp các hiện vật thiêng là những mảnh vàng có khắc hình. Trên cùng là một lá vàng cắt hình hoa sen bảy cánh được tạo hình rất đẹp với một khối tròn to nổi ở trung tâm, chính giữa có một gò chấm nổi thủng một lần, xung quanh có bảy chấm nổi tạo thành vòng tròn quanh tâm, xung quanh tâm là tám vòng những chấm gò nổi tạo thành phần nhụy sen. Dưới hiện vật này là 185 lá vàng được cắt theo các dạng hình học khác nhau, trong đó có tám tiêu bản tạo hình mang nội dung/chủ để tôn giáo, bao gồm: một hiện vật tạc hình rắn Shesha; một hiện vật hình thoi, có thể là một con rùa cách điệu hoặc một biểu tượng tôn giáo, năm hiện vật khắc hình voi trong tư thế bước đi (04 tiêu bản) hay đứng (01 tiêu bản) và một hiện vật có chạm khắc ký tự Sanskrit (?). Còn lại là 177 lá vàng được cắt tạo hình hay ghép lại từ nhiều mảnh khác nhau hay chỉ là những miếng vàng vụn (Trung tâm Khảo cổ học 2014: 19-20, 52-58; Lê Đình Phụng 2017: 390 ).

- Po Nagar : Là một quần thể đền tháp Champa tọa lạc tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Những hiện vật thiêng đã được phát hiện tại hố thiêng của đền tháp Tây Bắc và đền tháp phía Tây (Parmentier 1906, 1918: 443). 

Phía dưới nền móng đền tháp Tây Bắc là bốn viên gạch kích thước (34 x 19 x 11)cm, xếp tạo thành một khoang hình vuông (Parmentier 1906: 291), trong đó phát hiện được một số lá vàng mỏng: bốn lá vàng hình vuông có chạm khắc hình voi đặt theo bốn phương; những lá vàng khác chạm khắc hình tượng thằn lằn hoặc cá sấu, rùa và đinh ba được đặt theo các hướng còn lại. Vị trí trung tâm tìm thấy một bông sen vàng. Toàn bộ những vật thiêng này được bao phủ bởi một lớp cát sạch. Trên bốn viên gạch là một tấm kim loại hình vuông dày với 1/2 (theo đường chéo) được làm bằng vàng và phần còn lại làm bằng bạc. Ngoài ra, dưới mỗi viên gạch là một lá vàng vuông. Gần với những viên gạch đó còn phát hiện một viên đá quý và một sợi dây vàng dài khoảng 2m. Trong các góc của hố thiêng là bốn lọ đất, một trong số chúng có chứa xương? (Parmentier 1906: 294-295).

Các vật thiêng của đền tháp Tây cũng được phát hiện trong khoang vuông của hố thiêng tạo bởi bốn viên gạch. Đó là những lá vàng chạm khắc hình của một con voi và một con rùa. Phía dưới những viên gạch có khoảng 60 mảnh lá vàng hình vuông nhỏ được tìm thấy.

Quần thể đền tháp Po Nagar đã được xây dựng, tu bổ lại nhiều lần và niên đại của các kiến trúc hiện nay khoảng thế kỷ XI-XII (Guillon 2001: 195-196). Các kiến trúc tại đây có thể đã được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ VIII, đầu thế kỷ IX, khi một bia ký tại đền tháp Tây Bắc cho niên đại vào đầu thế kỷ IX. Có thể giả định rằng, nền móng của đền tháp Tây Bắc và phía Tây tại Po Nagar không bị thay đổi và vật thiêng tìm thấy ở đó cũng có niên đại tương ứng. Trong trường hợp này, chúng có cùng niên đại với những vật thiêng được phát hiện tại nền móng di tích Prasat Ak Yom (thuộc khu vực Angkor, Campuchia) (Slaczka 2007: 237) .

- Đại Hữu : Là một phế tích đền tháp Champa nằm ở cụm 3, thôn Đại Hữu, xã An Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Lê Đình Phụng (2017: 33-35) cho biết mặt bằng di tích này đã được người dân san bằng làm nơi cư trú, chỉ còn thấy một đoạn tường đền tháp phía Tây cao 0.4m là còn khá nguyên vẹn.

Dựa vào dữ liệu của bia ký C.129 và C.171 cho thấy Đại Hữu là ngôi đền tháp Bà La Môn giáo/Phật giáo được xây dựng dưới thời Jaya Simhavarman II (897-904), vị vua thứ hai của triều đại Đồng Dương (Finot & Goloubew 1925: 469-475 ; Golzio 2004: 93 ; Schweyer 2009: 309-337) . Tại di tích này phát hiện nhiều hiện vật liên quan tới Bà La Môn giáo/Phật giáo, trong đó quan trọng nhất là tượng đồng Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara), tượng đá Uma (Finot & Goloubew 1925: fig. 19). Hai hố thiêng được phát hiện tại đền tháp Bắc và đền tháp Nam (Aurousseau 1926a: 359-362) , trong đó, bốn viên gạch xếp thành hình khố i hay phát hiện trong nền móng đền tháp thì nay được thay thế bằng bốn lọ gốm nhỏ.

Trung tâm đền tháp Bắc, ở độ sâu 3.5m là một lớp cuội và đến độ sâu 4.0m là lớp cát sông, trên đó đặt một lá vàng được dát mỏng in nổi lên hình mai rùa, dài 5.7cm. Bên dưới lớp cát dày 0.35m, Henri de Pirey phát hiện một kho khiêng bao gồm bốn chiếc lọ nhỏ bằng đất nung, một số hiện vật kim loại và các đồ quý giá (Hình 7) (Aurousseau 1926a: 361) . Bốn lọ nhỏ đường kính 11-12cm đặt ở bốn góc của kho thiêng: ba lọ chứa các mẫu đá thạch anh bị vùi trong cát, trong đó có một lọ chứa ba mảnh đá quý hình tứ giác, một lọ chứa pha lê đẽo khá đẹp, lọ thứ tư chứa các mẫu kim loại hoặc quặng. Trung tâm khoảng trống được tạo bởi bốn chiếc lọ trên là một lá vàng phẳng cắt thành hình hoa sen đường kính 6.5cm đặt trên bề mặt. Phía trên lá vàng này là một lọ nhỏ bằng vàng cao 3.7cm, đường kính 5.4cm, có nắp đậy. Trong lọ bằng vàng có một viên đá quý màu trắng trong suốt, dài 1.6cm. Bên cạnh lọ vàng là một vòng tròn nhỏ bằng vàng, đường kính 1.2cm, giống như khuyên đeo tai. Xung quanh những vật kể trên có bảy chiếc lọ nhỏ bằng kim loại, đường kính từ 3.5-4.5cm. Những lọ này dễ vỡ (hai cái gần như đã vỡ nát hoàn toàn), mỗi lọ đựng hai viên đá quý (ngoại trừ một lọ đựng ba viên), các viên đá quý đều vùi trong cát và được đậy bằng một miếng kim loại phẳng có hình tứ giác. Cuối cùng là ba hoặc bốn miếng thạch anh lớn được đặt trong cái kho thiêng này.

Trung tâm đền tháp Nam ở độ sâu 3.6m là một lớp sỏi, độ sâu 4.0m là lớp cát mịn nhưng không thấy hiện vật vàng mỏng khắc hình rùa. Các hiện vật thánh hiến được tìm thấy bao gồm: bốn lọ nhỏ bằng đất nung đặt tại bốn góc giống với phát hiện tại hố thiêng đền tháp Bắc. Trung tâm khoảng trống được tạo ra bởi bốn lọ nhỏ đặt trên đất một lá vàng cắt thành một bông hoa sen cách điệu, đường kính 6.5cm. Phía trên bông hoa sen là một lọ nhỏ bằng vàng cao 4.0cm, đường kính 5.5cm, có nắp đậy. Trong lọ vàng có một viên đá quý màu tím rất đẹp, dài 2.0cm. Bên cạnh hoặc dưới lá vàng hình hoa sen là một khuyên đeo tai bằng vàng nhưng bảo quản kém, có lẽ giống như khuyên đeo tai tìm được ở đền tháp Bắc. Xung quanh những hiện vật này là bảy lọ kim loại nhỏ, đường kính từ 3.5-4.8cm. Hai trong số những chiếc lọ kim loại này đã bị hỏng, mỗi cái chứa một viên đá quý màu đỏ hoặc màu trắng, được bao phủ bởi cát, bên trên có một mảnh kim loại phẳng hình tứ giác dùng làm nắp đậy. Một trong bảy lọ nhỏ này chứa một mảnh thạch anh nhỏ (Aurousseau 1926a: 362) . Trước khi kết thúc khai quật, đã phát hiện hai miếng kim loại nhỏ bằng đồng hoặc đồng đỏ, có lẽ là của món đồ thờ được tìm thấy trong cuộc khai quật đầu tiên và đã được trình bày trong bài báo của Louis Finot và Victor Goloubew.

Hiện nay, những phát hiện về hố thiêng tại các di tích như Hòa Lai, Po Nagar, Đại Hữu cho thấy sự liên quan tới nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng. Những di vật phát hiện tại các di tích Đại Hữu rõ ràng là phù hợp với các quy định của nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng trong văn bản cổ Kasayapasilpa. So sánh với những nghi thức thiêng trong xây dựng nền móng đền tháp thì những vật thiêng phát hiện tại di tích Hòa Lai là biểu hiện của nghi thức đặt viên gạch đầu tiên. Trong văn bản Kaylaysia quy định rằng một sợi dây bằng vàng, bạc, đồng và vải cotton ( kautuka ) được buộc quanh những viên gạch ( Slaczka 2007: 152) .

3.3. Dạng chín viên gạch xếp thành tia mặt trời

Dạng hố thiêng này được phát hiện tại trung tâm của di tích Bà Chúa Xứ (Gò Tháp - Đồng Tháp). Trung tâm nền gạch có một hình tám cánh hay hình tám tia Mặt Trời, xếp bằng tám viên gạch, chỉ theo bốn hướng chính và bốn hướng phụ. Ngoài ra, còn có một dạng kiến trúc hình tròn giống hình bánh xe, có một viên làm trục trung tâm và nhiều tia, trong đó mỗi tia có ba viên gạch hình thang làm thành một tia như phát hiện ở di tích Gò Cây Thị (An Giang). Đặng Văn Thắng và Nguyễn Hữu Lý (2019: 130-131), căn cứ vào một tượng thần Surya phát hiện tại di tích Gò Cây Thị để khẳng định đây là đền thần Mặt trời theo mô hình Manduka-Mandala. Ngoài ra, ba ngôi đền trong giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo cũng được xác định là đền thờ lộ thiên thờ thần Mặt trời, dựa trên những viên gạch xếp thành hình mặt trời (Hình 5.3) hoặc mảnh vàng lá có hình bánh xe tại trung tâm của nền móng Gò Tháp (Đồng Tháp); Óc Eo - Ba Thê (An Giang), Cây Gáo I (Đồng Nai) (Đặng Văn Thắng và Nguyễn Hữu Lý 2019: 124) .

Nhóm tác giả này chỉ rõ hai lá vàng được phát hiện tại di tích Gò Tháp, còn di tích Óc Eo - Ba Thê và Cây Gáo I không hề phát hiện được hiện vật nào tương tự. Hai mảnh vàng ở di tích Gò Tháp được mô tả như sau: “Một mảnh có in hình vòng tròn có tám tia là bánh xe có tám nan của cỗ xe Mặt Trời và một mảnh có hình tia mặt trời (?). Hình tia mặt trời và bánh xe Mặt Trời bằng vàng tìm được ở di tích Gò Tháp tương đồng với hình bánh xe bằng đá ở đền thần Mặt Trời Konark, Orissa ở Ấn Độ” (Đặng Văn Thắng và Nguyễn Hữu Lý 2019: 127) .

So sánh lá vàng có kích thước nhỏ (không chắc chắn là bánh xe hoặc hình tia mặt trời - tác giả nhấn mạnh ) phát hiện trong nền móng đền tháp với một bánh xe có kích thước lớn bên ngoài đền tháp ở Ấn Độ không thể là một dữ liệu đáng tin cậy. Chúng ta không thể căn cứ vào những bằng chứng không rõ ràng để làm cơ sở khẳng định các kiến trúc tại Gò Tháp, Óc Eo - Ba Thê và Cây Gáo I là những đền tháp có mục đích chính là thờ thần Surya trong văn hóa Óc Eo. Từ đó, càng khó thuyết phục hơn khi liên kết giữa hình tia mặt trời hoặc bánh xe (?) trên lá vàng ở di tích Gò Tháp với trụ gạch hình tia mặt trời ở di tích Bà Chúa Xứ, Gò Cây Thị để khẳng định những di tích này là đền thờ thần Surya.

Hơn nữa, Gò Tháp là một tổ hợp nhiều kiến trúc và hai mảnh vàng trên không thể tách rời nhóm 339 lá vàng được phát hiện tại trụ gạch nằm ở trung tâm của hố thiêng ở di tích này. Đặc trưng nổi bật của những lá vàng này là mang biểu tượng của các vị thần Bà La Môn giáo mà nhiều nhất là liên quan tới thần Visnu như con cá, con rùa, con ốc, Garuda và hoa sen (Đào Linh Côn 2008: 159-160) . Cần lưu ý, di tích này còn phát hiện được minh văn đề cập đến thần Visnu, dựng tượng thờ hay đền thờ thần Puskaraksa, dâng lễ vật lên cho thần Sri Amvatakesvara (Võ Sĩ Khải 2018: 84) . Ngoài ra, tại Sri Lanka cũng phát hiện những mảnh vàng có in hình tia mặt trời/bánh xe (?) tại ba di tích Vijitapura Rajamahavihara, Sri Pushparamavihara và Madirigiriya (Slaczka 2007: 374-376, 378) và rõ ràng những di tích này không phải là đền thờ thần Surya.

Ngoài ra, tư liệu về đợt khai quật Gò Cây Thị cho biết đây là một kiến trúc gạch hình chữ nhật kích thước 20.9 x 13.4m, với 36 cấu trúc được ghi nhận (Võ Sĩ Khải 2018: 84) . Do đó, chúng ta nên xem xét cẩn thẩn nhận định thần Surya là vị thần chính được thờ trong những ngôi đền tháp này. Chúng tôi cho rằng, căn cứ vào vị trí di tích xuất lộ là trụ gạch tại trung tâm của hố thiêng, với nhiều hiện vật vàng quý hiếm được thánh hiến, cùng với nghi thức xây dựng đền thờ mà văn bản Ấn Độ cổ đã trình bày ở phía trên, cách sắp xếp chín viên gạch theo hình tia mặt trời tại các di tích này chưa đủ dữ liệu để chứng minh thần Surya là vị thần chính được thờ phụng ở đây. Thần Surya chỉ nên xem như một vị thần được thờ cúng ở những di tích này mà thôi. Nhiều khả năng đây là những dấu ấn liên quan tới nghi thức đặt viên gạch đầu tiên, đặt kho thiêng liên quan tới việc cầu mong sự bảo trợ của các vị chín vị thần phương hướng trong Bà La Môn giáo, mà thần Surya là một trong số những vị thần phương hướng này.

3.4. Dạng chín viên gạch xếp ba hàng ba

Dạng hố thiêng này chỉ được biết đến duy nhất tại di tích Trung Quán , là một phế tích đền tháp Champa nằm tại Lùm Giàng, thuộc xóm 1, thôn Phù Ninh, xã Duy Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình (Nguyễn Văn Quảng 2018: 53) . Di tích này được Henri de Pirey phát hiện và tiến hành khai quật vào năm 1926. Aurousseau (1926b: 363-365) xuất bản một báo cáo thuật lại chi tiết về kiến trúc đền tháp và cấu trúc hố thiêng phát hiện tại di tích này.

Đền tháp Trung Quán được xây bằng gạch, kích thước 7.12 x 7.17m, chiều cao còn lại được ghi nhận là 1.5m. Trung tâm nền móng đền tháp ở độ sâu 2.7m phát hiện một kho thiêng, bao gồm : chín viên gạch được sắp xếp ngay ngắn tạo thành hình chữ nhật ở trung tâm nền móng đền tháp, kích thước 0.6 x 0.5m, bao gồm một viên gạch ở trung tâm và tám viên gạch bao quanh. Trong lỗ hổng của viên gạch trung tâm có một con rùa bằng vàng, rỗng và nhẹ, dài 3.8cm và rộng 3.1cm. Bên dưới viên gạch trung tâm có một lọ nhỏ đường kính 3.1cm, có nắp đậy bằng vàng, bên trong chứa 20 viên đá quý, bao gồm: bốn viên màu trắng, trong như pha lê tinh khiết, trong đó có ba viên có kích thước lần lượt là 1.2cm, 1.3cm và 1.6cm, viên còn lại không có kích thước, được miêu tả là có màu hơi xanh và nhỏ hơn; mười viên đá quý có kích thước nhỏ, màu xanh lá cây; sáu viên đá quý có kích thước nhỏ, màu hồng tím, màu ngọc sắc tím hoặc ngọc thạch lựu. Dưới viên gạch đánh số ba là hai lá vàng chồng lên nhau: mảnh thứ nhất đã vỡ vụn và gần như bị phá hủy hoàn toàn; mảnh thứ hai đặt trực tiếp trên nền đất vẫn y nguyên như xưa, là một lá vàng cắt theo hình bông hoa sen với cánh hoa nở, làm phẳng và cách điệu rất đẹp, đường kính 8.4cm ( Hình 8) (Aurousseau 1926b: 363,365) . Hiện nay tại Ấn Độ, khi xây dựng các đền tháp, các tăng lữ Ấn Độ giáo vẫn tiến hành đặt chín viên gạch với ba hang ba giống như phát hiện tại Trung Quán. Cho thấy sự bao lưu lâu dài qua nhiều thế kỷ của nghi thức này (Hình 9) .

Picture 46

Picture 45

Picture 44

Hình 8. Hiện vật trong hố thiêng phát hiện ở lòng đền tháp Trung Quán, Quảng Bình

Hình 9 . Nghi thức đặt viên gạch đầu tiên ở Ấn Độ giống với phát hiện ở đền tháp Trung Quán, Quảng Bình

(Nguồn: EFEO_VIE23044)

(Nguồn: Nguyễn Hữu Mạnh)

3.5. Dạng một hộc gạch ở trung tâm và bốn hộc nhỏ xung quanh

Di tích Chùa Lò Gạch là một di tích đền tháp Óc Eo thuộc ấp Ba Se A, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Qua đợt khai quật năm 2014, các nhà khảo cổ làm xuất lộ sáu nền móng kiến trúc xây bằng gạch. Quá trình xử lý kỹ thuật tại hai kiến trúc 14LCG.KTr1 và 14CLG.KTr2 đã nhận diện được kết cấu độc đáo của hố thiêng tại đây. Theo đó, phần đáy của hố thiêng dạng hình trụ vuông có năm hộc xây bằng gạch, gồm một hộc lớn ở trung tâm và bốn hộc ở giữa bốn cạnh đông, tây, nam, bắc đối xứng (Hình 10) . Các hộc này được đậy bằng hai viên gạch đặt song song liền khít. Bên dưới các viên gạch tìm thấy một lá vàng chạm hình hoa sen lớn ở hộc trung tâm và bốn lá vàng chạm hình voi ở bốn hộc xung quanh. Từ đáy lên đến độ cao khoảng 0.4m được lấp đầy bởi cát sạch, bề mặt ở trung tâm của hố thiêng có đặt bốn viên đá cuội tạo thành một ô vuông đồng trục với ngăn trung tâm ở đáy. Giữa hai cạnh bắc và tây của ô vuông bằng đá cuội tìm thấy hai lá vàng nhỏ cắt hình vuông. Trên các viên đá cuội này đều có dấu vết gỉ đồng, đồng thời bên trong ô vuông này cũng có vết tích của mảnh đồng vỡ, có khả năng là những hiện vật nghi lễ đã bị đào lấy mất. Bên trên của lớp cát được xây kín bằng gạch, có thể cao đến bề mặt lòng kiến trúc. Các nhà khảo cổ trực tiếp khai quật, dựa vào bình đồ kiến trúc, cấu trúc hố thiêng và hiện vật tìm thấy tại Chùa Lò Gạch cho thấy sự gần gũi với những kiến trúc phát hiện tại di tích Gò Thành (Tiền Giang) và Gò Xoài (Long An) (Nguyễn Quốc Mạnh 2015).

3.6. Dạng hộc vuông xếp bằng gỗ

Kiến trúc Phật Nổi 1 của khu di tích Nền Chùa thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, nằm trên một gò đất đường kính khoảng 25m, cao 0.5m so với mặt ruộng xung quanh, trên gò có nhiều khối đá thạch anh xếp thành nhóm với cạnh thẳng và những ô vuông. Kiến trúc có bình đồ hình vuông với cạnh 3.3m, phần hố thiêng nằm sâu -0.9m so với mặt gò hiện tại, trong lòng được lấp đầy nhiều lớp thạch anh và cát trắng. Trung tâm hố thiêng là một hộc vuông được xây bằng tám thanh gỗ màu đen gồm hai lớp với sáu thanh gỗ dài (kích thước 80 x 20 x10cm) và hai thanh ngắn (kích thước 40 x 20 x 10cm), trong đó, lớp dưới gồm bốn thanh gỗ dài xếp thành hình vuông cạnh 126cm có bốn góc khuyết, lớp trên gồm hai thanh gỗ dài và hai thanh gỗ ngắn xếp chồng lên lớp dưới và giật nhẹ vào trong. Hộc thiêng được rải đầy cát trắng tơi mịn, lẫn với nhiều bột vàng, có năm viên đá nhỏ xếp thành vòng tròn ở ngay trên bề mặt. Bên dưới những khối gỗ này còn tìm thấy hai mảnh vàng nhỏ. Vách và đáy của kiến trúc là kết cấu đất sét đắp lẫn than tro, mủn thực vật, dày khoảng 100cm. Ở độ sâu -1.9m là một mặt phẳng xếp bằng đá dày 30 - 40cm. Bên dưới sàn đá này là lớp đất màu đen nhão chứa mùn thực vật (Đào Linh Côn 1995: 30-31; Bùi Chí Hoàng 2018: 197-198). Đây là kiến trúc độc đáo và duy nhất được ghi nhận trong văn hóa Óc Eo sử dụng gỗ để tạo trụ thiêng (Hình 11).

Ngoài ra, tại các kiến trúc của di tích Gò Thành (Tiền Giang) cũng ghi nhận sự hiện diện của cấu kiện gỗ trong cấu trúc hố thiêng, với chức năng là bệ cho trụ thiêng như dạng bốn thanh gỗ (kích thước 48 x 15.5 x 6.0cm) xếp chồng lên nhau tạo thành hình chữ thập có cạnh dài (88GT.M1) hay bốn thanh gỗ xếp thành hình vuông bên trong (88GT.M1).

3.7. Dạng lỗ tròn nhỏ ở trung tâm

Kiến trúc ký hiệu NC83.NC1 , tìm thấy ở phía tây của trung tâm gò Nền Chùa thuộc ấp Tràm Dưỡng, xã Mỹ Phước, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Kiến trúc này dài 4.0m, rộng 3.6m là kiến trúc duy nhất được ghi nhận trong văn hóa Óc Eo thể hiện hố thiêng với một lỗ tròn ở trung tâm. Kiến trúc có vách đất, trong lòng xuất lộ đá hoa cương và cát trắng từ bề mặt đến độ sâu -1.7m. Bên dưới đến độ sâu -2.25m là lớp đất sét nện với lớp trên dày 20cm, lớp dưới dày 35cm, cách nhau bởi một lớp cát trắng mỏng. Trung tâm của phần này là một lỗ có đường kính 6cm, sâu 30cm, có thể được tạo bằng một vật nhọn. Lỗ thiêng được chia thành hai phần trên dưới bằng nhau bằng một lá vàng tròn, trong đó, phần trên chứa đầy cát trắng mịn, chôn theo 16 lá vàng, phần dưới được rải đầy cát, đất màu nâu đỏ, tìm thấy bốn lá vàng, một đoạn nhẫn vàng, một viên đá quý màu đỏ, một mảnh kim loại nhỏ hình tam giác. Từ độ sâu -2.25m đến -3.15m cách bề mặt là lớp đất sét nện màu tím nhạt, dưới cùng là đất màu đen lẫn mùn thực vật. Niên đại 14 C của kiến trúc là 1.490 ± 50 BP (tương đương 460 AD) (Đào Linh Côn 1995: 112; Bùi Chí Hoàng 2018: 194).

3.8. Hố thiêng có các hốc thiêng

Mặc dù, có hàng trăm cuộc khai quật phát hiện được hố thiêng chứa vật thiêng thánh hiến trong kiến trúc ở Ấn Độ và Đông Nam Á (Slaczka 2007) , tuy nhiên hố thiêng có các hốc thiêng là phát hiện mang tính đặc trưng chỉ tồn tại trong nền móng kiến trúc Champa: Phong Lệ, Cấm Mít và Trà Kiệu.

- Trà Kiệu : Là một phế tích đền tháp nằm trong tòa thành cổ Simhapura, từng là kinh đô của vương quốc Champa. Hiện nay, phế tích đền tháp này tọa lạc tại một gò đất cao, cách đồi Bửu Châu khoảng 200m về phía Đông tại làng Trà Kiệu, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Claeys (1928: 578) được giao nhiệm vụ khảo sát từ tháng 6 năm 1927. Ngày 20/07/1927, một hố thiêng xuất lộ trong đền tháp A ở Trà Kiệu.

Ở chính giữa hố thiêng là một hố tròn (trụ thiêng) có đường kính 0.75m, sâu 0.8m có dấu vết của đào bới (Claeys 1927: 472-473) . Tiến hành mở rộng hố tới chiều rộng l.20m, phát hiện một mảnh thạch anh tuyệt đẹp, dài 20cm. 40 viên gạch còn nguyên vẹn được gỡ bỏ, có kích thước phổ biến là 32 x 16 x 8cm; bức tường bên trong của hố thiêng được bảo tồn rất tốt (Claeys 1927: 475) . Tháng 10/1927 đến tháng 2/1928, di tích này được khai quật, chi tiết về di tích và chức năng của nó cũng được làm sáng tỏ. Báo cáo của Claeys (1928: 583-584) cho biết: đào sâu thêm 0.8m, tức là sâu 2.3m so với bề mặt trong lòng đền tháp, ở một góc xuất lộ hai hốc nhỏ có kích thước 25 x 25cm. Những hốc này bị chặn bởi một viên gạch và cát trắng mịn chảy ra từ các khe. Khi làm sạch lớp cát trong một hốc nhỏ xuất lộ hai viên gạch được đặt trên một viên cuội hình bầu dục có đường kính lớn nhất xấp xỉ 12cm. Ngoài ra, hốc thiêng này cũng chứa bốn lá vàng có kích thước từ 0.7-0.9cm, bảy mảnh thạch anh có kích thước 2-3cm.

Sau đó, xuất lộ những hốc thiêng ở những góc còn lại và bốn hốc ở chính giữa bốn cạnh của hố thiêng. Mỗi hốc đều chứa các lá vàng, đá thạch anh và được lấp đầy trong cát sạch. Các mảnh vàng được đặt theo chiều ngang (chỉ có ba hoặc bốn mảnh được đặt theo chiều dọc) và góc nhọn của đá thạch anh được đặt xiên trong cát. Trong khi các lá vàng của Đại Hữu cách điệu hình con rùa; hoặc hình cá sấu đinh ba, hoa hồng trong cuộc khai quật ở Po Nagar thì hình dạng của các lá vàng Trà Kiệu chỉ là hình tứ giác.

Số lượng các mảnh vàng phân bố trong các hốc thiêng cũng không đồng đều. Số lượng lá vàng lớn nhất được tìm thấy các hốc thiêng nằm giữa các mặt Đông, Bắc và Tây; còn các hốc thiêng khác chỉ chứa duy nhất một mảnh vàng. Các hốc thiêng có từ một đến bảy mảnh thạch anh, ngoại trừ hốc thiêng ở phía Bắc và Đông chứa tới 25 mảnh thạch anh; tuy nhiên, nhiều hốc thiêng lại không chứa bất kì mảnh thạch anh nào. Dường như, kho thiêng ở chính giữa nền móng đền tháp đã bị đào phá bởi những kẻ cướp bóc vì một viên thạch anh lớn đã được tìm thấy trong cuộc thám sát đầu tiên.

- Phong Lệ: Là một phức hợp kiến trúc đền tháp Bà La Môn giáo thuộc phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng. Đây là di tích cung cấp tư liệu tốt nhất và đầy đủ nhất về loại hình hố thiêng có các hốc thiêng hiện biết. Khác với hố thiêng ở di tích Trà Kiệu khi có 12 hốc thiêng thì tại di tích Phong Lệ chỉ có tám hốc thiêng ở các cạnh tường hố thiêng (Hình 12).

Di tích Phong Lệ là một trong số rất ít các di tích Champa ở Đà Nẵng được phát hiện và ghi chép trước năm 1889, năm khám phá ra khu thánh địa Mỹ Sơn gây chú ý với nền nghiên cứu thực dân Pháp (Paris 1892 ; 1902 : 79-83). Tuy nhiên, di tích này bị lãng quên sau một thời gian dài.

Năm 2012, khi khai quật kiến trúc chính nằm ở trung tâm của ngọn đồi cao đã phát hiện được một hố thiêng với bốn bức tường được xây rất cẩn thận bằng gạch. Mặt cắt tường có hình thang vuông, cạnh trên dài 1.10m, cạnh đáy dài khoảng 1.40m và chiều cao 2.35m. Mặt trong của tường có hình thang cân, cạnh trên dài khoảng 4.20 x 4.20m, cạnh dưới dài khoảng 3.90 x 3.90m, được xây hơi choãi và được đục đẽo khá phẳng. Sau khi được đục đẽo xong, có thể còn được quét một lớp dầu? tạo thành một lớp mỏng có màu đen trên hầu khắp mặt trong của tường. Có bốn đến năm hàng gạch ở dưới cùng của mặt trong của bức tường phía Bắc và phía Nam được xây thụt vào phía giữa tường. Mặt ngoài tường có hình chữ nhật, cạnh trên và cạnh dưới dài tương đương nhau (khoảng 6.50m), được xây thẳng đứng nhưng không thật phẳng (Nguyễn Chiều và cộng sự 2013: 721-724 ) .

Địa tầng trong lòng hố thiêng Phong Lệ được chia thành nhiều lớp với cấu tạo khác nhau, cho ta thấy kĩ thuật xử lý cao của người Champa. Trên cùng là ba lớp gạch viên được mài, gọt và xây ghép cẩn thận. Phía dưới là một lớp gạch vụn đầm, dày khoảng 3-4cm; rồi đến lớp cuội cát trắng, dày khoảng 1.60m. Cuội ở đây có nhiều chất liệu và kích thước khác nhau nhưng chủ yếu là cuội có kích thước lớn (có những viên cuội dài tới 20-30cm). Phần đáy của hố thiêng là một lớp đất được bồi và đầm kỹ, dày 20cm, bề mặt khá phẳng và một lớp gạch vụn đầm dày khoảng 3-4cm. Sinh thổ với cấu tạo là sét pha cát mịn.

Ăn sâu vào mỗi vách tường có hai hốc thiêng nhỏ, tất cả có tám hốc thiêng có kết cấu tương tự như nhau. Mỗi hốc thiêng chia thành hai phần: phần trên, phần dưới và được ngăn cách bởi một viên gạch vuông. Phần trên của viên gạch thường có một số viên thạch anh nhỏ lèn chặt trong cát trắng mịn. Ngay phía dưới viên gạch vuông là một viên cuội sông hình trứng dựng đứng và cũng được lèn chặt bằng cát trắng. Ở phía cửa thuộc nửa dưới mỗi hốc thiêng thường có một đến ba viên thạch anh lớn. Bề mặt lởm chởm của những viên thạch anh đó đều được đặt quay lên trên. Duy nhất có một ô khám ở góc Đông Bắc của hố thiêng có thêm một viên cuội hình trứng được đặt đứng cạnh một viên thạch anh lớn chắn sát cửa khám.

Chính giữa hố thiêng có một lỗ tròn với đường kính khoảng 1.0m, xuất hiện từ mặt hố và sâu xuống 1.6m. Trong lỗ là gạch lộn xộn lẫn với đất, cuội và cát. Đáy lỗ có một vòng tròn được xếp bằng nhiều viên cuội granite hình trứng khá đẹp và kích thước khá đều đặn, cùng nhiều viên thạch anh trắng với kích thước khác nhau. Phần lớn của vòng tròn đó đã bị đào bới lộn xộn, chỉ có phần nhỏ còn được gần nguyên vẹn. Hiện tượng này cho thấy, trụ thiêng của di tích này đã bị đào phá .

- Cấm Mít : L à một tổ hợp phế tích đền tháp thuộc thôn Cẩm Toại Đông, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Năm 2012, cuộc khai quật tại di tích này đã phát lộ ba hố thiêng, nằm chính giữa nền móng của ba đền tháp chính: đền tháp Bắc, đền tháp Nam, đền tháp Trung tâm. Cùng với phát hiện hố thiêng ở di tích Phong Lệ thì phát hiện về hố thiêng của di tích Cấm Mít đã hoàn thiện hiểu biết về loại hình hố thiêng có tám hốc thiêng trong lòng kiến trúc đền tháp Champa ở miền Trung Việt Nam (Hình 13) .

Đặc điểm chung của hố thiêng Cấm Mít là miệng hố thiêng có bình đồ hình vuông, mặt cắt dọc hình thang ngược. Thành hố được vát taluy bằng gạch, đất laterit và đất sét trộn nhựa thực vật. Bề mặt hố được lát gạch bằng phẳng, vuông vức, phía dưới lót lớp cát sông màu vàng, mỏng 5cm, tiếp theo rải lớp cuội và cát sông xen kẽ nhau, tỷ lệ cát nhiều hơn cuội (bốn lớp cuội, ba lớp cát). Đáy hố đầm chặt bởi lớp đất sét pha cát trên nền lớp đá núi các loại (đền tháp Trung tâm), đầm chặt bởi cát mịn, đất sét đỏ sẫm lẫn xám trắng (đền tháp Nam), hay được đổ cát vàng (đền tháp Bắc) (Nguyễn Ngọc Chất và cộng sự 2012: 3-4) . Mỗi vách của hố thiêng ở Cấm Mít đều có hai hốc thiêng hình chữ nhật cách đều nhau, có tổng cộng tám hốc thiêng 2 . Những hốc thiêng này cách miệng hố khoảng 0.9-1.1m. Mỗi hốc đặt một viên gạch hình chữ nhật ở bên trên, phía dưới đặt viên cuội và dưới viên cuội là một đến hai mảnh nhỏ kim loại màu vàng, dát mỏng. Toàn bộ các hốc thiêng đều được phủ đầy lớp cát biển màu trắng xám. Các cục thạch anh lẫn trong lớp cát dùng để lấp hốc thiêng (đền tháp Bắc, đền tháp Trung tâm), hoặc được đặt phía trước cửa hốc thiêng (đền tháp Nam). Chính giữa hố thiêng là trụ thiêng đã bị đào phá với đường kính khoảng 1.0m từ miệng hố xuống tận đáy hoặc xuyên qua đáy để lại đất đen, gạch vỡ, rễ cây, đáng kể nhất là năm hạt thủy tinh (hai viên có lỗ xuyên thủng) và một số cục thạch anh nhỏ (đền tháp Trung tâm).

Ngoài ra, ở khu vực phía Nam bậc cấp của cửa đền tháp, ở độ sâu 1.1-1.3m, xuất lộ một vệt cuội và cát sông cùng khoảng đất đen có tính chất giống như đất trong hố đào giữa lòng hố thiêng. Sau khi xử lý chuyên môn khoảng đất đen này, các nhà khảo cổ thu nhặt được các mảnh vỡ của một vò gốm phủ men ngọc (gốm Gò Sành, Bình Định) cùng một số mảnh đồ sứ trắng ngà, xanh ngọc và đồ gốm ám khói. Đồng thời, thu nhặt được khá nhiều than tro, một số mẩu xương cháy, thạch anh và sáu mảnh kim loại màu vàng, dát mỏng, cắt tạo hình voi (Nguyễn Ngọc Chất và cộng sự 2012) . Có khả năng đây là các hiện vật được chuyển ra từ trong lòng hố thiêng. Cũng giống như các phát hiện khác về than tro trong nền móng đền tháp Gò Tháp, Nền Chùa (văn hóa Óc Eo) và Po Nagar (văn hóa Champa), việc phân tích thành phần than tro tại di tích Cấm Mít vẫn chưa được tiến hành để xác nhận đây có phải là than tro xương người hay không.

4. N hận xét

Trong khi các vật thiêng thánh hiến tại Indonesia được phát hiện phần lớn bên ngoài nền móng đền tháp thì trong đền tháp tại Việt Nam, các vật thiêng thánh hiến này chỉ được phát hiện bên dưới nền móng đền tháp, bên trong hố thiêng 3 . Nghiên cứu này đã chỉ ra đặc trưng riêng của hố thiêng trong nền móng đền tháp phát hiện tại văn hóa Champa ở miền Trung và Óc Eo ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, có hai loại hình, hố thiêng dạng hình trụ vuông và hố thiêng có mặt bằng hình vuông, dạng phễu thu nhỏ dần về đáy. Vách hố được xây bằng gạch, hoặc đơn giản chỉ là nền đất đắp hay đá, cát nện chặt. Trong lòng hố thiêng được lấp đầy bởi từng lớp cát sạch, sỏi sông, gạch vụn đầm. Các hiện vật thiêng thánh hiến phát hiện tại điểm trung tâm của hố thiêng, nơi được gọi là “trụ thiêng đền tháp” và tại các hốc tường. Trong đó, tại vị trí trung tâm của hố thiêng phát hiện bốn dạng kiến trúc chính dựa trên số lượng và cách sắp xếp những viên gạch, bao gồm: trụ gạch, bốn viên gạch, chín viên gạch xếp hình tia mặt trời và chín viên gạch xếp ba hàng ba. Trong văn hóa Óc Eo còn tìm thấy một số loại hình hố thiêng đặc trưng xây bằng gạch với một hộc hình vuông ở trung tâm và bốn hộc nhỏ ở bốn vách chính hướng đông, tây, nam và bắc; trụ thiêng xếp bằng gỗ hay là một lỗ tròn nhỏ. Ngoài ra, còn có một dạng hố thiêng rất đặc trưng, chỉ tìm thấy trong nến móng kiến trúc Champa là hố thiêng có các hốc thiêng. Những phát hiện này là liên quan tới nghi thức đặt viên gạch đầu tiên và nghi thức đặt kho thiêng, đây là hai nghi thức quan trọng trong xây dựng đền tháp chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ ( Slaczka 2007: 82 ; 2011: 438) .

Những ảnh hưởng của hai nghi thức này cũng khác biệt theo thời gian giữa hai nhóm cư dân Champa và Óc Eo. Nhiều phế tích đền tháp Óc Eo có niên đại khoảng thế kỷ I đến thế kỷ X (Lê Thị Liên 2006: 9-10) cho thấy những ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nghi thức này. Những tiêu chuẩn của giao lưu văn hóa được áp dụng một cách đầy đủ và chặt chẽ trong giai đoạn sớm khi văn minh Ấn Độ “lan tỏa” tới miền Nam Việt Nam. Điều này cho thấy sự bảo lưu truyền thống trong thực hiện nghi lễ có nguồn gốc ngoại sinh từ Ấn Độ như lễ đặt viên gạch đầu tiên và đặt kho thiêng trong đền tháp Óc Eo. Các hiện vật quý liên quan tới hai nghi thức này thường được đặt tại điểm trung tâm của hố thiêng.

Trong giai đoạn muộn, sau thế kỷ X, cư dân Champa đã có những biến đổi sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu của cư dân địa phương, những yếu tố ngoại sinh dần được địa phương hóa trong xây dựng đền tháp. Chúng tôi lưu ý rằng, vị trí hốc tường phát hiện các vật thiêng thánh hiến phía dưới nền móng đền tháp Champa như tại Trà Kiệu, Phong Lệ và Cấm Mít mới được tìm thấy ở miền Trung Việt Nam, chưa có trường hợp nào được ghi nhận bên ngoài Việt Nam. Số lượng hốc thiêng hiện biết là 08 hốc thiêng (Phong Lệ, Cấm Mít) hoặc 12 hốc thiêng (Trà Kiệu). Những hiện vật được tìm thấy trong mỗi hốc thiêng thường bao gồm: một viên gạch nằm trên một viên cuội sông, mảnh kim loại màu vàng, đá thạch anh và tất cả được lấp đầy trong cát sạch.

Do chứa nhiều hiện vật quý, có giá trị mà nhiều đền tháp Champa có hiện tượng bị đào bới khu vực trung tâm ở nền móng đền tháp. Tư liệu của cuộc khai quật Cấm Mít cho thấy một cách rõ ràng vò gốm Gò Sành? là hiện vật ở trung tâm hố thiêng nhưng bị đào bới và vứt ra ngoài (Nguyễn Ngọc Chất và cộng sự 2012) . Tư liệu của người Pháp đặt ra những giả thuyết như: “người An Nam xưa đã từng thực hiện một cuộc khai quật ở đây” (Aurousseau 1926a: 59, 61) hoặc họ có thể là “những người tìm kho báu” ( Parmentier 1909a: x ; 1918: 62. 67) , là “những kẻ cướp phá” (Parmentier 1918: 442) . Đồng thời, tư liệu của cuộc khai quật đền tháp Mĩ Sơn A1 cho biết có dấu vết người Champa đã tu sửa và có thể việc cướp phá này diễn ra từ trước đó (Parmentier 1918: 588-589) . Cũng có thể vì một lí do nào đó mà chính người Champa trong lịch sử đã đào mang đi các vật thiêng thánh hiến. Theo Bùi Chí Hoàng (2011: 406) thì hố thiêng ở hai kiến trúc phía sau của đền tháp Dương Long chỉ là “sự phế bỏ về mặt chức năng tâm linh hơn là một hành động phá hủy”. Tất cả các trụ thiêng đều đã bị đào phá cho nên chúng ta không biết rõ trụ thiêng của loại hình hố thiêng thứ hai có dạng hình gì. Tuy nhiên, đáy của hố thiêng Phong Lệ có một vòng cuội sông xếp thành hình tròn (dù không nguyên vẹn) có cùng đường kính tương đương với lỗ tròn ở trung tâm nền móng , một trong những hình dạng của trụ thiêng trong nền móng đền tháp Champa có dạng hình tròn?.

Các văn bản cổ Ấn Độ liệt kê vật thiêng thánh hiến không bao gồm tro xương động vật. Đồng thời không có bất kì vật thiêng thánh hiến nào phát hiện tại Ấn Độ có chứa than tro động vật (Slaczka 2007: 259) . Sự xuất hiện của than tro động vật trong các hố thiêng chứa đựng vật thiêng thánh hiến tại các di tích Óc Eo, Champa và Indonesia cho thấy một truyền thống mang tính chất địa phương, phổ biến trong xây dựng đền tháp trong một số khu vực nhất định của Đông Nam Á?.

Nói một cách khái quát, bài viết cung cấp nhiều thông tin về hố thiêng và kiến trúc trung tâm trong lòng hố thiêng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Rõ ràng là từ rất sớm, cư dân Champa, Óc Eo đã nắm vững và thực hành những nghi thức như đặt viên gạch đầu tiên, đặt kho thiêng được quy định trong Kasayapasilpa - văn bản cổ của Ấn Độ. Những tư liệu từ đền tháp Champa, Óc Eo về “hố thiêng” và những nghi thức liên quan đến nó khẳng định mối liên quan chặt chẽ của miền Trung và miền Nam Việt Nam với nền văn minh Ấn Độ. Cư dân Champa và Óc Eo cũng biến đổi những nghi thức này sao cho phù hợp với điều kiện địa phương, văn hóa bản địa mà bằng chứng là việc xuất hiện loại hình hố thiêng có tám hay mười hai hốc thiêng chứa đựng vật thiêng thánh hiến tại di tích Trà Kiệu, Phong Lệ. Đây là một loại hình hố thiêng lần đầu tiên được biết tới trong thế giới, cung cấp và bổ sung những tư liệu để các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn mối quan hệ, trao đổi giữa vùng Đông Nam Á và Nam Á trong lịch sử.

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tiến hành trong khuôn khổ đề tài QG.22.38. Chúng tôi gửi lời cảm ơn trân trọng tới GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung (Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG Hà Nội), nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương, dịch giả Thanh Thư (Đà Nẵng) đã có những góp ý hữu ích, hiệu đính bản dịch tư liệu Pháp văn của bài viết và sự hỗ trợ tư liệu của Trung tâm Khảo cổ học (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ). Đây là những ý kiến góp ý, những tư liệu rất hữu ích mà chúng tôi luôn trân quý!

Chú thích:

1. “Giới tính” của gạch được chia thành ba nhóm: N am tính, nữ tính và trung tính. Tuy nhiên, làm thế nào để xác định giới tính của những viên gạch thì không có những quy định rõ ràng. Trong trường hơp có bốn viên gạch thì hai viên nằm ngang có đầu quay về hướng Đông, hai viên nằm dọc có đầu quay về hưởng Bắc (Võ Văn Thắng 2013: 26).

2. Đền tháp Nam cũng có tám hốc thiêng nhưng mới khai quật được sáu hốc, trừ hai hốc phía Tây và Tây Nam, bởi vì vướng gốc cây cổ thụ.

3. Mặc dù Parmentier (1903 , 1904) cho biết bên ngoài khu vực trung tâm nền móng nhóm đền tháp Mĩ Sơn C, giữa tường bao và đền tháp Mĩ Sơn C7 phát hiện một bộ sưu tập hiện vật vàng nhưng chúng tôi cho rằng đây là hành động liên quan tới chôn giấu kho báu chứ không phải là những vật thiêng thánh hiến gắn với thực hành nghi lễ trong xây dựng nền móng đền tháp.

TÀI LIỆU DẪN

AUROUSSEAU, LEONARD 1926a. “Nouvelles fouilles de Đại Hữu: une fouille au village de Trung Quán (Quảng Bình, Annam)”. In Bulletin de l’Ecole française d’Extrême- Orient , Hà Nội: Imprimerie d’Extrême-Orient, 359-362.

AUROUSSEAU, LEONARD 1926b. “Une fouille au village de Trung-quán (Quảng-Bình, Annam).” In Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient , Hà Nội: Imprimerie d’Extrême-Orient, 363-365.

BHATT, N. R. 1993. “Saiva temple rituals.” Bulletin d’Études Indiennes 11-12, 71-84.

BÙI CHÍ HOÀNG 2011. “Diện mạo khu tháp Dương Long qua ba lần khai quật”. Trong Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam , tập 4. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 391-440.

BÙI CHÍ HOÀNG 2018. Khảo cổ học Nam Bộ, tập 2: Thời Sơ sử. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

CLAEYS, JEAN-YVS 1927. “Fouilles de Trà Kiệu.” In Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême-Orient , Hà Nội: Imprimerie d’Extrême-Orient, 468-482.

CLAEYS, JEAN-YVS 1928. “Fouilles de Trà-kiệu.” In Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient , Hà Nội: Imprimerie d’Extrême-Orient, 578-596.

ĐẶNG VĂN THẮNG 2017. “Hindu Temples in Go Thap Dong Thap Province,Vietnam.” In American Scientific Research Journal for Engineering, Technology, and Sciences : 385-98. http://asrjetsjournal.org/index.php/American_Scientific_Journal/article/view/2874.

ĐẶNG VĂN THẮNG và NGUYỄN HỮU LÝ 2019. “Đền thờ và thần mặt trời trong Văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ.” Tron g Khoa học Đại học Đà Lạt, 9: 124-137.

ĐÀO LINH CÔN 1983. “ Khai quật di tích mộ táng thuộc văn hóa Óc Eo ở Nền Chùa - Tân Hội (Kiên Giang)”. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1983 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 212-215.

ĐÀO LINH CÔN 1986. “Mộ táng văn hóa Óc Eo: phát hiện mới, loại hình mới” . Trong Khảo cổ học 2: 51-57.

ĐÀO LINH CÔN 1995. Mộ táng trong văn hóa Óc Eo . Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học lịch sử, Tư liệu Viện Khoa học Xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh .

ĐÀO LINH CÔN 2008. “Một số di chỉ tiêu biểu của Văn hóa Óc Eo trên đất Nam Bộ.” Trong Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam . Nxb. Thế giới, Hà Nội: 150-163.

DIKSHITAR, V R RAMACHANDRA. 1995. The Purana Index . Vol. 3. Delhi: Motilal Banarsidass.

FINOT, LOUIS và VICTOR GOLOUBEW. 1925. “Fouilles de Đại-Hữu: Quảng-Bình, Annam.” In Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient, XXV , Hà Nội: Imprimerie d’Extrême-Orient, 469-475.

GOLZIO, KARL-HEINZ. 2004. Inscriptions of Campā Based on the Editions and Translations of Abel Bergaigne, Etienne Aymonier, Louis Finot, Edouard Huber and Other French Scholars and of the Work of R.C. Majumdar; Newly Presented, with Minor Corrections of Texts and Translations , T. Aachen: Shaker.

GUILLON, EMMANUEL 2001. Cham art . London: Thames and Hudson.

HARDY, ADAM 2007. The Temple Architecture of India . Chichester: Wiley.

HÀ VĂN TẤN 2002. Khảo cổ học Việt Nam - tập III: Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam . Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

HIGHAM, CHARLES 2002. Early Cultures of mainland Southeast Asia. River Books Ltd. Thailand.

LÊ ĐÌNH PHỤNG 2017. Khảo cổ học Champa: khai quật và phát hiện . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

LE THI LIEN 2007. “Gold plaques and their cultural contexts in the Oc Eo culture.” BIPPA Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 25(0), 145-154.

LE THI LIEN 2011. “Hindu Deities in Southern Vietnam: Images on Small Archaeological Artefacts: Reflections on Cross-Cultural Exchange.” In Early Interactions between South and Southeast Asia , 407-431.

LE THI LIEN 2018. “Indian-Southeast Asian Contacts and Cultural Exchanges: Evidence from Vietnam: Historical and Contemporary Dimensions.” In Cultural and Civilizational Links between India and Southeast Asia: Historical and Contemporary Dimensions , 107-127.

LÊ THỊ LIÊN 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng song Cửu Long trước thế kỷ X . Hà nội: Nhà xuất bản Thế giới.

LÊ THỊ LIÊN 2018. “Nghi thức xây dựng và các nghi lễ liên quan tới kiến trúc tôn giáo.” Trong Khảo cổ học , số 5: 36 -51.

LÊ XUÂN DIỆM. 1984. “ Về các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long ”. Trong Văn hóa Óc Eo và các nền văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long . Sở Văn hóa Thể thao tỉnh An Giang, Long Xuyên: 43-59.

LÊ XUÂN DIỆM, ĐÀO LINH CÔN, VÕ SĨ KHẢI 1995. Văn hóa Óc Eo: những khám phá mới . Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

MALLERET, LOUIS. 1959. L’Archéologie du delta du Mékong - Tome Premier. La civilisation matérialle d’Oc - Eo . Paris: École Française d’Extrême Orient.

NGUYỄN CHIỀU VÀ CỘNG SỰ 2013. “Tiếp tục khai quật khu di tích Chàm Phong Lệ.” Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2012 . Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội : 721-724.

NGUYỄN NGỌC CHẤT VÀ CỘNG SỰ 2012. Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật di tích Cấm Mít (Đà Nẵng) năm 2012 . Tư liệu Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

NGUYỄN QUỐC MẠNH. 2015. Báo cáo kết quả điều tra - thám sát và khai quật khảo cổ học di tích khảo cổ học Bờ Lũy - Chùa Kompong Thmo (ấp Ba Se A - xã Lương Hòa - huyện Châu Thành - tỉnh Trà Vinh). Tư liệu Trung tâm Khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ.

NGUYỄN VĂN QUẢNG 2018. Các di tích Đền-Tháp, Thành-Lũy Champa ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế . Luận án Tiến sĩ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

PARIS, CAMILLE 1892. “Les Ruines Tjames de La Province de Quang-Nam (Tourane).” In L’Anthropologie , Paris: G. Masson, 137-144.

PARIS, CAMILLE 1902. “Les stations de My-Son, Tra-Keu, Phong-Lé.” In Bulletin de géographie historique et descriptive , n 0 1. Paris: Impr. nationale, 69-83.

PARMENTIER, HENRI 1903. “Découverte de bijoux anciens à Mĩ-sơn.” In Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient 3 (1), 664-665.

PARMENTIER, HENRI 1904. “Les monuments du cirque de Mï-Son.” Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient 4 (1), 805-896.

PARMENTIER, HENRI 1909a. Inventaire Descriptif des Monuments Čams de L’Annam: Planches d’après les relevés et les dessins de l’auteur . Paris: Leroux.

PARMENTIER, HENRI 1909b. Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam. Description des monuments 1 . Paris: Leroux.

PARMENTIER, HENRI 1918. Inventaire descriptif des monuments Čams de l’Annam 2 . Paris: Leroux.

RAMELAN, WIWIN DJUWITA SUDJANA. 2015. Candi Indonesia: seri Jawa . Jakarta: Direktorat Pelestarian Cagar Budaya dan Permuseuman, Direktorat Jenderal Kebudayaan, Kementerian Pendidikan dan Kebudayaan.

RAO, S. K. RAMACHANDRA. 1994. Agama-Kosha (Agama Encyclopaedia) . Vol. 9: Co. Bangalore: Kalpatharu Research Academy Publication.

REVIRE, NICOLAS 2015. “Re-exploring the Buddhist ‘Foundation Deposits’ at Chedi Chula Prathon, Nakhon Pathom.” Buddhist Dynamics in Premodern and Early Modern Southeast Asia, edited by D. Christian Lammerts. Singapor: ISEAS–Yusof Ishak Institute, pp. 172-217. https://doi.org/10.1355/9789814519076-008.

SCHWEYER, ANNE-VALÉRIE. 2009. “Buddhism in Čampā.” Moussons 14, 309-337.

SLACZKA, ANNA. 2007. Temple Consecration Rituals in Ancient India: Text and Archaeology . Leiden; Boston: Brill. https://doi.org/10.1163/ej.9789004158436.i-414.

SLACZKA, ANNA 2011. “’21. The Depositing of the Embryo’-Temple Consecration Rituals in the Hindu Tradition of South and Southeast Asia: A Study of the Textual and Archaeological Evidence: Reflections on Cross-Cultural Exchange.” In Early Interactions between South and Southeast Asia, edited by Pierre-Yves Manguin, A. Mani and Geoff Wade. Singapor: ISEAS–Yusof Ishak Institute, pp. 433-442. https://doi.org/10.1355/9789814311175-024

SLACZKA, ANNA 2012. “The brick structures of Go Thap-tombs or temples?”. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 31, 108-116.

SOEKMONO, R. 1995. The Javanese Candi: Function and Meaning . Leiden; New York: E.J. Brill. http://catalog.hathitrust.org/api/volumes/oclc/32396249.html.

TRUNG TÂM KHẢO CỔ HỌC. 2014. Báo cáo khai quật khu di tích Hòa Lai (xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận) (năm 2012-2013). Tư liệu Trung tâm Khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ.

VÕ SĨ KHẢI 1985. “Nghiên cứu văn hóa khảo cổ Óc Eo: Mười năm nhìn lại . Tạp chí Khảo cổ học 4, 13-32.

VÕ SĨ KHẢI 2018. Kiến trúc trong văn hóa Óc Eo - hậu Óc Eo ở Nam Bộ . Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

VÕ VĂN THẮNG 2013. “Kho thiêng trong lòng tháp Chăm: từ văn bản cổ đến phát hiện khảo cổ.” Trong Khảo cổ học, số 6: 25-38.

VÕ VĂN THẮNG VÀ CỘNG SỰ 2014. Di tích Chăm tại Đà Nẵng và những phát hiện mới . Nxb. Đà Nẵng.

ARCHITECTURE OF RITUAL DEPOSITS IN CHAMPA AND ÓC EO TEMPLES

NGUYỄN HỮU MẠNH, NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH

From the early centuries AD, the Champa in Central Việt Nam as well as the Óc Eo in Southern Việt Nam are the two cultures influenced by Indian civilization, in which religion is a profound and typical expression in this strong cultural interaction. Many architectural temples and towers were built by the two groups of ancient inhabitants. According to the construction standards of Brahminism, the "sacred hole" plays an important part in the temple/tower structure. The sacred hole refers to a square or rectangular plan in the centre of the temple/tower foundation or bases; The hole wall was built with bricks and filled with sand, stones, bricks, etc. In it, many "sacred objects" made of precious stones, gold, and silver with carvings of religious symbols could be found.

From the detailed description of the "sacred hole" and the locations of the sacred objects found from the archaeological excavations at the temples/towers of the ancient Champa, Óc Eo kingdoms in the present Vietnamese territory of Vietnam today, and the ancient Indian texts, the article refers to the classification of the structures in the sacred hole, clarification of the function and significance this site type in the temple/ towers. In addition, the discoveries of sacred pits in ancient Southeast Asian countries have initially been mentioned and studied in order to get a better view of the cultural, art and religious interactions in the region.

Nguyễn Hữu Mạnh, Nguyễn Hoàng Bách Linh
Nguồn bài viết: Tạp chí Khảo cổ học, số 3/2022
Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

61 Phan Chu Trinh, P. Cửa Nam, TP. Hà Nội

+8424 38255449