Ngày 21/09/2026, tại Hội trường Viện Khảo cổ học (số 61 Phan Chu Trinh, phường Cửa Nam, Hà Nội), đã diễn ra tọa đàm khoa học với chủ đề
“Mức độ tương thích giữa phương pháp đo sọ truyền thống và đo trên mô hình số hóa 3D: nghiên cứu trên sưu tập sọ người cổ Mán Bạc (Ninh Bình)”
thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở
“Nghiên cứu hình thái hộp sọ di chỉ Mán Bạc bằng phương pháp Scan 3D”
do CN. Trương Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm. Tọa đàm do TS. Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học chủ trì, thu hút sự tham dự của các nhà khảo cổ học, cán bộ nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực nhân học.
Tại buổi tọa đàm, CN. Trương Hữu Nghĩa đã trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá mức độ tương thích giữa hai phương pháp đo sọ trên 24 hộp sọ người trưởng thành (13 nam, 11 nữ) thuộc di chỉ Mán Bạc, đây là địa điểm khảo cổ học quan trọng ở tỉnh Ninh Bình có niên đại khoảng 3.300-3.600 BP. Nghiên cứu bao gồm 29 đặc điểm hình thái (25 kích thước tuyến tính và 4 chỉ số phái sinh), được so sánh giữa dữ liệu đo bằng thước kẹp truyền thống với dữ liệu thu được từ mô hình 3D bằng máy quét cầm tay Artec Space Spider.
Vấn đề nghiên cứu được đặt ra có tính chất phương pháp luận then chốt:
Phép đo trên mô hình kỹ thuật số có thể thay thế hiệu quả phương pháp đo bằng thước kẹp truyền thống trong nhân trắc học không?
Đây là câu hỏi được nêu ra bởi sự cần thiết bảo tồn di cốt và chia sẻ dữ liệu khoa học. Tác giả đã tiến hành so sánh trực tiếp dữ liệu từ hai phương pháp, sử dụng các công cụ phân tích thống kê nâng cao như hệ số tương quan nội lớp (ICC), phân tích Bland-Altman, kiểm định ghép cặp, để đánh giá độ chính xác và khả năng thay thế giữa hai phương pháp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tương hợp xuất sắc giữa hai phương pháp, với hệ số ICC trung bình đạt 0,961, hệ số tương quan Pearson trung bình đạt 0,969. Đặc biệt, 26/29 đặc điểm (89,7%) đạt mức độ tin cậy xuất sắc (ICC > 0,90). Quan trọng hơn, phân tích chi tiết cho thấy khả năng thay thế phụ thuộc vào kích thước đo, các kích thước lớn đạt tương hợp gần như tuyệt đối (ICC ≥ 0,99), trong khi các kích thước nhỏ và chỉ số phái sinh có sai số tương đối cao hơn, yêu cầu cần phải chuẩn hóa quy trình định vị điểm mốc giải phẫu trên môi trường 3D.
Tại phần thảo luận, các đại biểu và chuyên gia đánh giá cao tính khả thi và hiệu quả của phương pháp quét 3D trong việc giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp với hiện vật gốc, từ đó bảo vệ tốt hơn các mẫu vật quý giá. Phương pháp này mở ra khả năng lưu trữ bền vững thông tin hình thái lâu dài, cho phép tái đo các kích thước không có trong nghiên cứu ban đầu mà không cần tiếp xúc lại với mẫu. Hơn nữa, số hóa 3D tạo tiền đề để chia sẻ dữ liệu khoa học quốc tế và ứng dụng các kỹ thuật hình thái học hiện đại như phân tích hình thái hình học (geometric morphometrics).
Tóm lại, tọa đàm đã khẳng định phương pháp đo trên mô hình 3D là giải pháp thay thế đáng tin cậy cho phương pháp đo thủ công truyền thống, mở ra triển vọng ứng dụng sâu rộng công nghệ số hóa trong nhân học hình thái, bảo tồn di tích và tích hợp liên ngành trong thời gian tới.
Người viết: Nguyễn Ngọc Lan
Minh họa: Minh Thành