image banner
VI | EN
ĐỒ SỨ THỜI TỐNG PHÁT HIỆN TẠI 36 ĐIỆN BIÊN PHỦ, HÀ NỘI

K hu vực Vườn Hồng thuộc dự án Đường hầm và Bãi xe ngầm Nhà Quốc Hội, phân bố tại số 36 đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, ở phía tây nam của Hoàng thành Thăng Long, cách cổng Đoan Môn khoảng 500m 2 về phía tây và cách địa điểm 62 - 64 Trần Phú khoảng 300m 2 về phía nam. Khu vực Vườn Hồng đã được Viện Khảo cổ học khai quật từ năm 2012 đến năm 2014. Tại đây đã phát hiện được một khối lượng lớn đồ gốm sứ Việt Nam và Trung Quốc có niên đại kéo dài từ thế kỷ I đến thế kỷ XX. Trong số những đồ gốm phát hiện được, đồ gốm sứ thời Tống chiếm một số lượng khá khiêm tốn, tuy nhiên nó cũng đã phản ánh được phần nào tình trạng sản xuất đồ gốm sứthời Lý ở kinh thành Thăng Long cùng mối quan hệ giao thương, phản ánh lịch sử và xã hội đương thời.

1. Các dòng gốm men thời Tống phát hiện tại địa điểm Vườn Hồng

Sứ thời Tống phát hiện ở khu vực Vườn Hồng hầu hết đều bị vỡ chỉ còn lại phần chân đế, không xác định được hình dáng nên việc nghiên cứu cũng gặp nhiều khó khăn. Đồ sứ thời Tống xuất sang Đại Việt tìm thấy ở Vườn Hồng gồm có 4 dòng men: men ngọc màu xanh, men trắng xanh, men trắng đục và men màu xanh lơ nhạt. Trong số 4 dòng men này thì men trắng xanh và trắng đục chiếm số lượng nhiều nhất. Đồ sứ thuộc dòng men xanh ngọc có số lượng hạn chế. Về loại hình, đồ sứ thời Tống phát hiện ở khu vực Vườn Hồng đều là đồ gia dụng, loại hình không nhiều chỉ có bát, đĩa và cốc chân cao (Tước).

1.1. Dòng sứ men trắng xanh

Chân đế bát, đĩa của dòng gốm này, phân chia theo hình dáng và kỹ thuật tạo tác thì có 4 loại chân đế.

1.1.1. Loại 1: Bát, đĩa chân đế rất thấp, bề mặt của vành đế khá rộng, men trắng xanh nhạt, xương rất trắng, nhìn mắt thường cũng thấy độ nung khá cao. Tiêu biểu là đế bát ký hiệu 12.VH.G5.L7, vành đế cắt phẳng, bề mặt rộng, thành thân đế thấp, gần giống với vành đế của đồ sứ trắng gốm cao cấp từ thời Đường (Từ năm 618 đến năm 927 - Tính cả thời Hậu Đường) và nếu chỉ tính từ thời Bắc Tống thì niên đại sẽ từ năm 960 - đến năm1127. Tiêu biểu cho loại bát đĩa này là các đế bát tìm thấy ở khu vực Vườn Hồng mang ký hiệu 12.VH.G2.L7 và 12.VH.G5.L7 ( Hình 1, 2 ). Bát ký hiệu12.VH.G2.L7 ở thân tạo 5 - 6 múi nổi, vành miệng bên ngoài tạo gờ nổi vát cong. Bát đĩa loại này thường không trang trí hoa văn, dáng bát rất phổ biến ở thời Hậu Đường - thời Ngũ Đại và Tống sớm.

Đây cũng là là loại đồ sứ thời Tống có mặt sớm nhất ở Việt Nam.

1.1.2. Loại 2: Bát, đĩa có chân đế tương đối mảnh, vành đế có bề mặt nhỏ, thành chân đế trong ngoài cắt vuông thành sắc cạnh, rất cẩn thận trong ngoài phủ kín men trừ vành đế. Thành chân đế thẳng hoặc hơi cúp vào. Lòng bát, đĩa không có dấu chân con kê nhưng trong lòng chân đế còn lưu lại dấu con kê hình tròn tạo thành vệt tròn mầu vàng- xám.

Đây là loại chân đế niên đại sớm, có mặt ở tất cả 4 dòng men. Loại chân đế này cũng khá gần gũi với chân đế bát đĩa có từ thời Đường đến Bắc Tống. Loại chân đế này còn mang tính truyền thống.Có thể coi đây là loại kỹ thuật tạo chân đế bát đĩa thường được thể hiện trên đồ sứ cao cấp thời Hậu Đường - thời Tống. Ba chiếc đế bát đĩa Trung Quốc thời Hậu Đường mà chúng tôi dẫn ra dưới đây, dưới lòng đế có khắc chữ “Quan” , đã cho thấy sự sang trọng của dòng đồ sứ này (Hình 3, 4, 5) .

Tiêu biểu cho loại hình bát đĩa này ở Vườn Hồng là các hiện vật ký hiệu 12.VH.G2.L2.AH.01 và hiện vật ký hiệu 12.VH.G2.L3.Chân đế loại 2 thường được thấy ở loại bát hay đĩa có lòng khá rộng, gốm khá mỏng, tinh tế.Lòng bát đĩa khắc chìm hoa văn dưới men bằng nét rất mảnh, nhưng do bị vỡ nên không thể biết được mô típ và bố cục hoa văn. Men thường bị rạn nhỏ. Nơi tiếp giáp với thành và lòng đế bên trong có đường vét lõm lòng máng hoặc cắt thẳng 12.VH.G2.L2.AH.010. và 12.VH.G2.L3.

Kỹ thuật này khá giống với kỹ thuật cắt chân đế của gốm thời Lý của Việt Nam (Hình 6, 7, 8 và 9).

1.1.3. Loại 3: Bát đĩa có chân đế cao. Loại này cũng có kỹ thuật khá giống với cùng loại ở đồ gốm thời Lý của Việt Nam. Thành chân đế bên ngoài thường tạo khá thẳng hoặc chỉ hơi cúp vào. Thành chân đế bên trong thẳng hoặc hơi vát xiên (Hình 10).

Nhìn chung thì chân đế loại này thường dầy và nặng hơn 2 loại trên, phù hợp với loại bát, đĩa có kích thước lớn. Trong lòng bát, đĩa hoặc ở thân bên ngoài thường khắc chìm hoa văn dưới men hình hoa lá cách điệu thiên về đường cong mềm mại, bên trong các cánh hoa có các đường cong song song như vết chải răng lược, đường nét mảnh. Cũng giống như ở lòng bát đĩa loại 2, lòng bát, đĩa loại 3 cũng không có dấu chân con kê nhưng trong lòng của chân đế thường lưu lại vết con kê hình tròn đùng để kê ở dưới đáy, tạo thành vệt tròn mầu nâu nhạt hay nâu - vàng nhạt.

Tiêu biểu cho loại hình bát đĩa này là các chân đế mang ký hiệu 12.VH.G19.L1 và 12.VH.G13.L9 (Hình 11).

Trong số những chiếc đế của loại này, có 1 chân đế của loại bát tạo dáng đóa sen, thân bên ngoài chía khoảng tạo múi thể hiện cánh sen; thành bát vát xiên, ở thân bên ngoài, sát với chân đế có đường cắt gẫy góc. Bên trong và bên ngoài bát khắc chìm hoa văn. Chiếc đế bát được tìm thấy ở Vườn Hồng, mang ký hiệu 12.VH.G10.VB. Lòng bát không để lại dấu vết chân con kê. Bát dày và nặng hơn các loại trên (Hình 12).

1.1.4. Loại 4: Loại chân đế có khoét lỗ lõm hình nón.Đây là chân đếcủa lọai cốc chân cao (Tước).

Tước thời Tống chân cao, thon dài (Hình 13). Tỷ lệ giữa chân đế và thân rất cân đối. Tại Vườn Hồng đã tìm thấy 1 chân đế tước thời Tống. Tước chỉ còn lại phần tay cầm, dáng thon nhỏ. Lớp men phủ bên ngoài bóng, trong, mịn, xương cao lanh rất trắng, chắc, không tạo độ xốp. Chiếc tước này hiện vật ký hiệu 12.VH.G8.L4 (Hình 14).

1.2. Dòng sứ men màu xanh lơ nhạt

Tại địa điểm Vườn Hồng, dòng gốm xanh lơ nhạt cũng chỉ tìm thấy ở chân đế của các loại hình bát và đĩa.

Dòng men này cũng khá thịnh hành ở thời Tống và thường được trang trí cầu kỳ, chi tiết. Tiêu biểu là chiếc đĩa thời Tống trong hình 15 . Chân đế của đồ sứ thuộc dòng men này cũng có các loại chân đế 2, 3 như đã trình bày ở trên. Chưa tìm thấy chân đế loại 1 và 4.

1.2.1. Chân đế loại 2: Là loại chân đế thấp, có 3 kiểu, chân đế cắt thẳng, chân đế cúp vào và chân đế choãi. Chân đế loại 2 cũng có thể có, hoặc không có trang trí hoa văn. Nếu đó là đồ sứ được trang trí hoa văn thì đồ án khá đẹp và rất tỉ mỉ với đề tài là hoa lá cách điệu, đóa sen hay hoa cách điệu kết hợp với đường chải răng lược, đường chấm nhỏ như in mép miệng vỏ sò nét in, khắc chìm tinh xảo, chi tiết.

Chân đế loại 2 kiểu 1: Chân đế cắt thẳng. Kiểu này vành đế thanh mảnh, lòng đế thường để mộc và còn lưu lại dấu vết bề mặt con kê khá rộng, hình tròn, không để lại vết lỗ rỗng nên có thể đoán định được là loại con kê dày, đặc đã được sử dụng để chống dính men. Tiêu biểu là 2 chân đế ký hiệu 12.VH.G2.Lm.và 12.VH.G5.L6 (Hình 16).

F:\2020 GỐM SỨ TQ COP TỪ ĐĨA\[Su ] TONG-NGUYÊN ĐÀO NGOÃ GIÁM ĐỊNH TẬP HẠ\File3653b.jpg

C:\Users\Admin\Desktop\SỨ TỐNG - HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆN KT\CHỌN ĐÃ LÀM SHOP\CHỌN MẦU XANH LƠ+ XANH LÁ CÂY\New folder\giảm sai\L1190039 (Small).JPG Description: C:\Users\Admin\Desktop\SỨ TỐNG - HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆN KT\CHỌN ĐÃ LÀM SHOP\CHỌN MẦU XANH LƠ+ XANH LÁ CÂY\New folder\L1190040.JPG

Description: C:\Users\Admin\Desktop\2020 GỐM SỨ VƯỜN HỒNG\SỨ TỐNG\SỨ TỐNG MẦU XANH LƠ\CHỌN MẦU XANH LƠ+ XANH LÁ CÂY\L1190084.JPG Description: C:\Users\Admin\Desktop\2020 GỐM SỨ VƯỜN HỒNG\SỨ TỐNG\SỨ TỐNG MẦU XANH LƠ\CHỌN MẦU XANH LƠ+ XANH LÁ CÂY\L1190083.JPG

Hình 15. Đĩa

12.VH.G2.Lm

12.VH.G5.L6

thời Tống trang trí

Hình 16. Mảnh chân đế loại 2 kiểu 1

(Nguồn 1 :)

(Nguồn: Tác giả)

C hân đế loại 2 kiểu 2: Kiểu chân đế cúp vào. Loại bát đĩa có kiểu chân đế cúp vào, trong lòng chủ yếu trang trí hoa văn hoa lá cách điệu kết hợp với đường chải răng lược hoặc không trang trí hoa văn. Các chi tiết về kỹ thuật nung, giống với đồ sứ men trắng xanh. Lòng đế cũng thường để mộc giống với chân đế loại 2 kiểu 1 (Hình 17).

Chân đế loại 2 kiểu 3: Kiểu chân đế này là của loại bát, đĩa chân đế thấp, rất mỏng, có thành đế bên trong cắt vát, men xanh mỏng, gần như trong suốt, làm lộ cốt. Kiểu chân đế này có khá ít. Hoa văn trang trí rất tinh xáo. Tiêu biểu là 2 mảnh chân đế ký hiệu 12.VH.G8.L10 và 12.VH.G8.L6 (Hình 18).

 

Hình 17. Chân đế loại 2 kiểu 2 Hình 18. Chân đế loại 2 kiểu 3

(Nguồn: Tác giả)

1.2.2. Chân đế loại 3: Là chân đế của loại bát đĩa có chân đế cao, lòng đế để mộc, thường lưu lại dấu con kê tròn, đặc. Vết kê để lại là đường tròn màu vàng - xám, giống với vết con kê của chân đế đồ sứ loại 2. Loại này vẫn chiếm số lượng lớn thể hiện sự phổ biến của nó. Hoa văn trang trí tinh xảo, tỉ mỉ với các đồ án phức tạp. Đặc biệt là sở hữu kỹ thuật tạo chân đế với đường vét lõm lòng máng ở thành chân đế bên trong rất giống với đồ sứ thời Lý của Việt Nam (Hình 19).

Description: L1190047 Description: L1190048 Description: L1190044 Description: L1190046

Hình 19. Chân đế loại 3

(Nguồn: Tác giả)

1.3. Dòng sứ men màu trắng đục

Thật ra thì đây là dòng sứ men trắng nhưng xương và men vẫn tồn tại sắc vàng. Dòng sứ này cũng có các kiểu loại chân đế như 2 dòng sứ kể trên và khá gần gũi với gốm men trắng thời Lý của Việt Nam. Hoa văn trang trí chủ yếu là hoa lá cách điệu thể hiện với phong cách thoáng đạt kết hợp vởi các dường chải răng lược rất mảnh. Lòng đế của đồ sứ vẫn lưu lại dấu vết của con kê chống dính kê lót dưới đáy.

Một số bát bị vỡ đã cho thấy có loại bát thành cắt vát, đáy có đường gãy góc không trang trí hoa văn, được tạo dáng theo ý tưởng 1 đài sen đã qua chu kỳ đơm hoa kết hạt. Hầu hết đế bát đĩa vỡ đã cho thấy chúng được làm khá dày.

Không có bằng chứng nào cho thấy chúng được dùng con kê 4-5 chân ở trong lòng như đồ gốm cùng loại ở Việt Nam (Hình 20). Đó là điều khác biệt lớn nhất trong kỹ thuật chống dính men của đồ sứ Việt Nam thời Lý và đồ sứ Trung Quốc thời Tống phát hiện được ở Vườn Hồng. Cũng vì sự khác biệt trong kỹ thuật chống dính men khi nung gốm nên ở lòng đế của đồ sứ Việt Nam thời Lý không có dấu vết kê để lại là đường tròn màu vành- xám như ở đồ sứ Trung Quốc thời Tống .

 

Hình 20. Mảnh chân gốm sứ trắng đục không có dấu vết kê khi nung phát hiện tại Vườn Hồng

(Nguồn: Tác giả)

Dòng sứ men trắng Việt Nam thời Lý được đầu tư công phu hơn các dòng sứ khác, nhiều tiêu bản gốm có xương gốm được lọc kỹ loại bỏ tạp chất, khiến xương và men trắng muốt. Nhiều tiêu bản gốm rất mỏng, độ tinh xảo cao.

Dòng sứ men trắng đục Trung Quốc thời Tống tìm thấy ở khu vực Vườn Hồng cũng là dòng sứ phổ biến và tương đối bình dân hơn các dòng men khác, cũng có đủ 4 loại chân đế như dòng gốm men trắng xanh và khá đa dạng về kiểu dáng, tuy nhiên hoa văn trang trí lại kém đi sự tinh xảo và ít thấy có đồ án trang trí hoa văn đẹp (Hình 21).

 

 

Hình 21. Dòng sứ men trắng đục Trung Quốc thời Tống tìm thấy ở khu vực Vườn Hồng

(Nguồn: Tác giả)

1.4. Dòng sứ men xanh ngọc

Dòng sứ này của thời Tống không có nhiều ở khu vực Vườn Hồng. Số lượng ít hơn nhiều so với sứ men ngọc xanh thời Nguyên được phát hiện tại đây. Sứ men ngọc thời Tống ở Vườn Hồng cũng chỉ có 2 loại hình bát và đĩa. Sứ men xanh ngọc Trung Quốc thời Tống và thời Nguyên rất khó phân biệt khi mà đồ sứ ở giai đoạn đầu thời Nguyên được làm cao cấp, tinh xảo.

Nhìn chung bát sứ men xanh ngọc Trung Quốc thời Tống thường có chân đế rất nhỏ, thân bên ngoài tạo các cánh sen, chân đế phủ kín men, trừ vành đế. Thành chân đế và vành đế cắt vuông thành sắc cạnh, bề mặt vành đế khá nhỏ, không để lại vết sần do xương đã được lọc kỹ và do vết cắt chân đế rất gọn gàng, đôi khi vành chân đế còn được mài nhẵn; lớp men bóng, mịn màng, có chiều sâu (Hình 22) .

 

Hình 22. Dòng sứ men xanh ngọc (Nguồn: Tác giả)

Đĩa sứ men xanh ngọc Trung Quốc thời Tống và thời Nguyên thường phổ biến là loại sâu lòng, vành miệng ngoài cong khum, vành miệng trong lõm lòng máng, giữa lòng đĩa in nổi hình 2 con cá ngược chiều nhau. Tuy nhiên, đĩa thời Tống chưa thấy ở khu vực Vườn Hồng, mà tại đây chỉ thấy đĩa thời Nguyên.

Có 2 tiêu bản đồ sứ men xanh ngọc, dạng nửa bát nửa đĩa. chúng tôi căn cứ vào vành miệng nên tạm xếp vào loại đĩa sâu lòng. Một trong 2 chiếc đĩa thành bên trong tạo lõm cánh hoa. Các tiêu chí kỹ thuật khác giống với điac thời Tống như: đế cắt vuông thành sắc cạnh, bề mặt vành đế rất nhỏ, trong ngoài phủ kín men xanh ngọc, trừ vành đế. men mịn, bóng. Đặc biệt là vành miệng đĩa khum hơn, vát xiên, không bẻ ngang như đĩa thời Nguyên và Minh.

Tất cả 2 tiêu bản đồ sứ men xanh ngọc đều không trang trí hoa văn, mầu men ngọc xanh biếc.

2. Đồ sứ thương mại thời Tống ở các địa phương khác

Đồ sứ thời Tống có mặt tại Việt Nam cũng không nhiều, Hoàng thành Thăng Long là nơi phát hiện được nhiều nhất. Đồ sứ thời Tống được tìm thấy ở khu vực Vườn Hồng, nền điện Kính Thiên, 62-64 Trần Phú, 18 Hoàng Diệu, Quần Ngựa… trong phạm vi phân bố gần 1km 2 , với số lượng rất hạn chế.

Tại các địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam hầu như vắng bóng đồ sứ thời Tống. Theo các công bố và sự lưu trữ tại các bảo tàng trong cả nước thì đồ sứ thời Tống cũng chỉ có mặt tại một số tỉnh như Thanh Hóa, Tuyên Quang, Nam Định, với số lượng đếm trên đầu ngón tay.

Các cuộc điều tra khaỏ sát và khai quật tại các các thương cảng suốt từ Quảng Ninh tới Hà Tĩnh như Vân Đồn (Qnảng Ninh), Lạch Trường, Lạch Ghép, Lạch Bạng (Thanh Hóa), Đền Huyện, Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh)… Cũng có rất ít mảnh sứ Trung Quốc thời Tống. Nhiều khả năng đồ sứ thời Tống chưa phải là hàng hóa buôn bán phổ biến vào Đại Việt tại thời điểm này.

Đồ sứ Trung Quốc thời Tống có mặt tại Hoàng thành Thăng Long, mặc dù có số lượng nhiều nhất so với các tỉnh thành khác, nhưng có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó có thể từ nguồn do được triều đình đặt mua riêng để dùng trong cung đình, nguồn khác từ là quà biếu tặng và không ngoại trừ khả năng do quan hệ thương mại.

Hai đồ sứ Tống phát hiện được ở Chiêm Hóa (Tỉnh Tuyên Quang), như bát men ngọc xanh trang trí hoa dây, đế sứ kê bình men trắng xanh, có thể là đồ của vua Lý tặng cho con rể của mình là Thái Bảo họ Hà, nhưng cũng có thể là đồ sứ có được do mua của người Nam Chiếu qua con đường Vân Nam. Đại Việt sử ký toàn thư Việt sử lược đều ghi chép về việc châu Vị Long của Việt Nam thời Lý có mối quan hệ với người Nam Chiếu.

Trong một số mộ Mường ở huyện Lương Sơn (Nay thuộc thành phố Hà Nội), cũng phát hiện được đồ sứ thời Tống, nhiều khả năng cũng là quà tặng của vua Lý cho các con rể hoặc công thần của mình bởi rất khó có khả năng vào thời điểm đó thương lái Trung Quốc có thể len lỏi tới được vùng sâu vùng xa của Đại Việt.

3. Ảnh hưởng của đồ sứ thời Tống với sản xuất gốm sứ thời Lý ở Đại Việt

Từ thế kỷ II sau Công Nguyên trở đi, tại Việt Nam đã có hệ thống lò gốm sản xuất gốm gia dụng trải qua nhiều thời đại tại các tỉnh Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh như các khu lò Tam Thọ (Thanh Hóa), Đại Lai, Đương Xá, Quả Cảm, Đồng Khống, Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Tuần Châu (Quảng Ninh), Lũng Hòa, Thanh Lãng, Đồng Đậu, Đạo Đức (Vĩnh Phúc) và Xóm Hống, Vạn Yên, Thanh Khơi, Trạm Điền, Xóm Hống, Chu Đậu, Mỹ Xá, Cậy, Ngói, Láo, Hợp Lễ (Hải Dương),vùng gốm Thiên Trường gồm có các lò ở Cồn Chè, Cồn Thịnh, Tức Mặc, Hạ Lan (Nam Định) Bát Tràng, Kim Lan, Đầu Vè, Long Tửu vàvùng xung quanh kinh thành Thăng Long (Hà Nội)… nên việc cung cấp gốm gia dụng quốc nội đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng đồ gốm mang tính bình dân. Tuy nhiên tại thời điểm thời Lý, từ thế kỷ XI - XIII, thì không có nhiều lò sản xuất gốm như thế. Ở thời Lý, đã hình thành nên các vùng sản xuất gốm như sau:

3.1. Các vùng sản xuất gốm thời Lý

Xung quanh kinh thành Thăng Long thời Lý là khu vực sản xuất gốm quan trọng nhất và là nơi tạo ra những đồ sứ đẹp nhất. Các lò gốm được mở ra ở khu vực này nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng gốm trong Hoàng cung và tiêu dùng trong dân cư vùng ven kinh đô.

3.1.1. Vùng Đông Anh và Gia Lâm (Hà Nội)

Dọc đôi bờ sông Đuống, huyện Đông Anh, trong các đợt điều tra thám sát và khai quật của khoa Lịch sử, trường ĐHKHXH & NV đã phát hiện được nhiều địa điểm có gốm sứ thời Đại La, Đinh Lê và Lý, Trần, Lê.

- Tại địa điểm Hoa Lâm Viên , thôn Du Nội và thôn Thái Bình, xã Mai Lâm qua 2 cuộc khai quật năm 2002 và 2007 tại khu vực Bãi Sập (nơi Trần Thủ Độ đào hố sâu rồi làm nhà bên trên.Tôn thất nhà Lý đến làm lễ ở đây. Chờ mọi người uống rượu say ông sai người giật dây làm sập nhà, chôn sống tôn thất nhà Lý dưới hố vào năm 1232) ( Đại Việt sử ký toàn thư 2000:16 ) đã tìm được số lượng lớn đồ sành, đồ sứ gia dụng thời Lý và tiền đồng thời Bắc Tống (Năm 960 - 1127). Đồ sành và đồ sứ thời Lý ở địa điểm nay là sản phẩm của các lò gốm ở bên bờ sông Đuống (Bùi Hữu Tiến, Trần Anh Dũng 2008: 436 - 439).

- Địa điểm Bến Long Tửu , thôn Đông Ngàn, xã Đông Hội, được phát hiện năm 2007. Tại đây đã tìm được rất nhiều đồ gốm sinh hoạt bằng sứ, sành thời Lý, Trần với các dòng men ngọc, men trắng ngà, men nâu và gốm hoa nâu; vật liệu kiến trúc như gạch, ngói. Đặc biệt là tìm thấy bằng chứng của sản xuất gốm thời Lý như con kê gốm, đồ gốm phế thải, bao nung… (Bùi Hữu Tiến 2008: 332-334, Lâm Mỹ Dung và Bùi Hữu Tiến 2008: 318 - 321). Tại xã Đông Hội còn có các địa điểm khác như Ngõ Mít, Gò Cống Sứ, chùa Long Tửu, Vườn Quan cũng tìm thấy gốm sứ Lý, Trần.

- Địa điểm Đầu Vè , xóm Trại Nam Sơn, thôn Lại Đà, xã Đông Hội, được khai quật lần thứ nhất năm 2007, tại đây đã phát hiện được gạch Giang Tây quân, gốm sứ thời Đại La, gốm sứ thời Lý, Trần, là di chỉ cư trú nhiều thời đại bên bờ sông Đuống (Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn 2008: 316 - 318).

- Địa điểm xóm 3 và 4 thôn Bắc Cầu , phường Ngọc Thụy quận Long Biên, đối diện với bến Long Tửu, trong đợt khảo sát năm 2007 cũng đã phát hiện được gốm sứ thời Đại La và thời Lý, Trần, tầng văn hóa ở đây dày 0,80m-1,5m (Bùi Hữu Tiến 2008: 321 - 323).

3.1.2. Vùng đê/La thành phía nam và tây nam Hoàng thành Thăng Long

Khu vực dốc đê Bưởi, nút Văn Cao - Đào Tấn, đàn Nam Giao (Wincom phố Bà Triệu, thành phố Hà Nội) phát hiện được nhiều mảnh bao nung thời Lý, Trần được dùng để san lấp mặt bằng. Ngoài ra, ở các khu vực này còn tìm được nhiều mảnh đồ gốm sứ Lý, Trần; con kê gốm; đồ sành thời Lý. Trong đó đặc biệt phải kể đến các lò nung sành thời Lý ở Dốc Đê Bưởi. Năm 2015, tại đây đã khai quật được rất nhiều đồ sành thời Lý, phế phẩm của lò gốm, dấu vết của nung gốm.

3.1.3. Trong Hoàng thành Thăng Long

Tại khu vực 62-64 Trần Phú, Vườn Hồng, khu vực điện Kính Thiên, 18 Hoàng Diệu, Đoan Môn, Bắc Môn… đã tìm thấy các chồng bát đĩa bị dính men, mảnh bao nung, mảng tường lò, con kê gốm, khuôn in hoa văn…Theo ghi chép trong cổ sử thì thợ gốm được ở trong cung Động Nhân, ngay trong Hoàng Cung.

3.1.4. Vùng Bắc Ninh

Đây là vùng sản xuất đồ sành lớn nhất thời Lý và các thời tiếp theo, là vùng có truyền thống sản xuất đồ gốm truyền thống lâu đời của nước ta, với các khu lò ở Đại Lai, Bãi Định, Đương Xá, Quả Cảm, Đồng Khống, Thổ Hà, Phù Lãng. Trừ lò Thổ Hà, Quả Cảm, các lò còn lại đều sản xuất cả đồ sành và đồ gốm tráng men. Tuy nhiên ở thời Lý chỉ có lò Đồng Khống và Quả Cảm là sản xuất gốm. Đồ gốm tráng men của lò Đồng Khống là dòng men trắng đục.

3.2. Ảnh hưởng của sứ thời Tống với sản xuất gốm sứ ở Đại Việt thời Lý

Có thể khẳng định ngay được là, ảnh hưởng của sứ thời Tống với sản xuất gốm sứ ở Đại Việt thời Lý là không nhiều nhưng khá quan trọng.

Trước hết là sự hình thành các dòng men. Thời Đinh Lê, đồ gốm được phủ men ở Đại Việt chỉ có 2 dòng men cơ bản là men trắng đục, men xanh ngọc nhạt và men nâu. Gốm men xanh ngọc nhạt hoặc xám xanh được tìm thấy ở các lò Đương Xá, Lũng Ngoại, Thanh Lãng, Đại Lai. Đồ gốm tráng men nâu được sản xuất tại lò Lũng Ngoại (Vĩnh Phúc) với kỹ thuật quét men bằng chổi (Chứ không phải là nhúng men).

Tại các lò gốm thời Lý ở các vùng gốm kể trên đã bắt đầu hình thành rõ ràng hơn các dòng men gốm trắng (Trắng ngà, trắng đục), men ngọc và men nâu.

Đồ gốm men thời Lý phát hiện được tại Hoàng thành Thăng Long chủ yếu là dòng men trắng đục, men nâu men xanh ngọc và men xanh lục. Nhiều hiện vật được phát hiện như tượng người, bát đĩa, đồ thờ, hộp sứ… đã cho thấy mức độ tinh xảo của chúng.

Khá nhiều tiêu bản đồ gốm có kỹ thuật gắn chắp và cắt chân đế giống với đồ sứ Tống, trong đó đặc biệt phải kể đến loại hình bát đĩa chân đế cao tìm thấy ở 18 Hoàng Diệu, Vườn Hồng, khu vực nền điện Kính Thiên. Loại đồ gốm men có chân đế thấp, thành và vành đế cắt gọt gọn gàng, vuông thành sắc cạnh, thanh thoát cũng khá giống với chân đế đồ sứ thời Tống.

Ảnh hưởng của sứ thời Tống với gốm men thời Lý có thể nhận thấy qua một số dáng bát đĩa, mô típ hoa văn trang trí như mẫu đơn, hình em bé vờn hoa, hoa lá với các đường chải răng lược nét thanh mảnh… Tuy nhiên, về chi tiết thi lại hoàn toàn khác.

Nhìn tổng thể thì gốm men thời Lý rất khác với gốm men thời Tống về nhiều mặt, trong đó có kỹ thuật nung. Gốm men thời Lý phổ biến sử dụng kỹ thuật chống dính men bằng con kê 5 mấu, đặt trực tiếp trong lòng bát đĩa trong khi đồ sứ thời Tống lại sử dụng kỹ thuật dùng con kê tròn bản rộng kê trong lòng đế của đồ sứ.

Mô típ của hoa văn gốm men thời Lý như hình em bé ẩn hiện trong trong hoa lá (Hầu hết là loại lá giống lá hoa ngọc lan, dương xỉ); Các đường chải răng lược thường thưa và giản độ cong…cũng khác với sứ thời Tống. Một số tượng gốm men nâu hình người và hoa văn trang trí thì hòan toàn sáng tạo với sự ảnh hưởng của Champa…

Như chúng tôi đã nói ở trên, việc phát hiện được số đồ gốm sứ thời Tống ở một khu vực nhỏ thuộc Hoàng thành Thăng Long mặc dù chưa thể coi là có đủ đại diện của đồ gốm sứ Trung Quốc thời Tống ở Hoàng thành Thăng Long, nhưng từ sự tiếp cận này cũng phản ánh được phần nào vấn đề giao thương gốm sứ giữa quốc gia Đại Việt và triều đình nhà Tống.

Chú thích:

1. Tống - Nguyên đào ngõa giám định 2003, tập hạ: 284.

TÀI LIỆU DẪN

TỐNG - NGUYÊN ĐÀO NGÕA GIÁM ĐỊNH 2003, tập hạ.

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ 2000. Tập 2. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội: 16.

BÙI HỮU TIẾN, TRẦN ANH DŨNG 2007. Gốm men thời Lý, Trần trong đợt khai quật lần 1 di tích Hoa Lâm Viên (Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2006 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 436 - 439.

BÙI HỮU TIẾN 2008. Phát hiện di tích Lý - Trần tại Hải Dương và Hà Nội. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2007 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 332-334.

LÂM MỸ DUNG và BÙI HỮU TIẾN 2008. Kết quả khai quật di tích Bến Long Tửu . Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2007. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 318 - 321.

HÁN VĂN KHẨN, ĐẶNG HỒNG SƠN 2008 . Khai quật lần thứ nhất di tích Đầu Vè (Đông Anh, Hà Nội) . Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2007 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 316 - 318.

BÙI HỮU TIẾN 2008. Khảo sát ở xóm 2 và xóm 3 thôn Bắc Cầu (Quận Long Biên). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2007 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 321 - 323.

SONG-PERIOD PORCELAIN FROM 36 ĐIỆN BIÊN PHỦ SITE

(THĂNG LONG IMPERIAL CITADEL, HÀ NỘI)

TRẦN ANH DŨNG

The Song-period porcelain exported to Đại Việt found from in the Vườn Hồng site includes 4 lines of enamel: celadon, blue-white, opaque white and light blue. Typologically, most of they are daily items and their quantity is very limited though they were found most from Thăng Long Imperial Citadel.

In Northern Việt Nam, the Song-period porcelain has been only found in some provinces such as Thanh Hóa, Tuyên Quang, and Nam Định, with very small quantity. The reasons for this are that at that time the ceramic production areas in Việt Nam met the domestic demand, the trade interaction between Đại Việt and Song dynasty was not strong, and there was a trend of Đại Việt’s high independence.

The Song-period porcelain affected the ceramic production in Đại Việt in the Lý-dynasty period not much, but it had an impact on the clear ceramic formation of glazed lines, some styles and forms, some decorative motifs, some techniques for making the bases.

Nguồn bài viết: Tạp chí Khảo cổ học, số 1/2022
Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

61 Phan Chu Trinh, P. Cửa Nam, TP. Hà Nội

+8424 38255449