Một trong những báu vật vô giá thời Trần chính là bàn thờ đá (hay bệ đá hoa sen hình hộp)
mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa, đặc biệt là giá trị nghệ thuật đặc sắc tiêu
biểu ở vùng Bắc Bộ nước ta. Với nhiều tên gọi cho loại hình nghệ thuật độc đáo
này như: bệ đá Tam thế, bệ đá Hoa sen, bệ đá thời Trần. Dựa theo tên gọi, chúng
ta có thể hình dung những đặc điểm nổi bật nhất của loại hình di vật này, đó
chính là: được làm bằng đá, chế tác vào thời Trần, kiểu dáng hộp, chạm khắc thành tòa sen và cùng có chức năng là
bệ ngồi của những bộ tượng Tam thế.
Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên, minh văn khắc
trên bàn thờ Phật bằng đá ở di tích
chùa Phổ Quang (Phú Thọ) cho biết, dưới thời Trần, từ khi khởi dựng, hiện vật
đã được định danh là “Bàn Phật thạch tòa”, tức Bàn thờ Phật bằng đá.
Trong số những bàn thờ Phật bằng đá còn lưu giữ được cho
tới ngày nay, có hai hiện vật nổi
bật, đó là bàn thờ Phật ở hai chùa Hương Trai và Đại Bi (Hoài Đức, Hà Nội).
1.
Nguồn gốc xuất xứ bàn thờ Phật chùa Hương Trai và chùa Đại Bi
Bàn thờ Phật chùa Hương Trai (hay còn gọi là Bệ đá hoa sen
chùa Hương Trai; Hương án (Nhang án) đá chùa Hương Trai; Bệ đá tam thế chùa Hương Trai...) còn nguyên về hình dáng, cánh sen góc
phải của đài sen bị vỡ mất mảnh, một số phiến đá bị nứt ngang.
Tầng đế cuối cùng bị che lấp một
phần do quá trình tu bổ,
nâng cốt nền tòa Thượng điện.
Di tích chùa Hương Trai (thuộc thôn Dương Liễu, xã Dương Liễu, huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội) được khởi dựng ít nhất từ nửa cuối thế kỷ XIV (thời Trần). Trải qua thời gian và các đợt trùng tu, tôn tạo, diện mạo kiến trúc chùa Hương Trai hiện nay đã có nhiều thay đổi, nhưng vẫn bảo tồn được những
dấu tích kiến trúc và các mảng chạm khắc có
niên
đại sớm, điển hình là 02 bộ vì giá chiêng thế kỷ XVI (thời Mạc) còn khá hoàn chỉnh tại tòa Thượng
điện của chùa. Đặc biệt, trong tòa Thượng điện còn lưu giữ được 01 hiện vật vô cùng độc đáo, đó là Bàn thờ
Phật (bàn Phật thạch tòa), gắn với lịch sử của chùa từ nửa cuối thế kỷ XIV.
Bàn thờ Phật chùa Đại Bi (hay còn gọi là bệ đá Hoa sen chùa Đại Bi; Hương án (Nhang
án) đá chùa Đại Bi,...) còn nguyên hình dáng, một số thớt đá bị sứt nhỏ
ở cạnh; góc chân đế bên trái (phía trong) bị vỡ được gắn chắp và gia cố lại. Di
tích kiến trúc - nghệ thuật chùa Đại Bi (xã
Cát Quế, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, được khởi dựng ít nhất từ nửa cuối
thế kỷ XIV (thời Trần)). Trải qua thời gian và các đợt trùng
tu, tôn tạo, diện mạo kiến trúc chùa Đại Bi hiện nay mang dáng dấp công trình
kiến trúc thời Nguyễn. Ngoài một số hiện vật đồ thờ tự và tượng thờ mang phong
cách nghệ thuật thế kỷ XVII-XVIII, tại tòa Thượng điện còn lưu giữ được 01 hiện
vật vô cùng độc đáo, đó là Bàn thờ Phật (bàn Phật thạch tòa), gắn với lịch sử
của chùa từ nửa cuối thế kỷ XIV. Bàn thờ Phật (bàn Phật thạch tòa) được lưu giữ
trong tòa Thượng điện của di tích kiến trúc - nghệ thuật chùa Đại
Bi từ nửa cuối thế kỷ XIV đến
nay.
2.
Đặc trưng bàn thờ Phật chùa Hương Trai và chùa Đại Bi
2.1 2.1. Đặc trưng bàn thờ Phật chùa Hương Trai
(Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội
2025; Trần Thị Biển 2017; Tống Trung
Tín 1999). Trong tổng thể mặt bằng Phật điện chùa Hương Trai hiện nay, bàn thờ Phật chùa Hương
Trai
nằm ở vị trí gian trong cùng của tòa Thượng điện, sát tường hậu của di tích.
Bàn thờ có bố cục hình hộp chữ nhật, về cấu trúc và chạm khắc được chia làm 3
phần, trên cùng là phần đài sen (tựa như bông hoa sen nở mãn khai), phần thân ở
giữa thót lại, phía dưới đế dật cấp mở rộng ra.
Từ góc độ kỹ thuật tạo tác cho thấy bàn thờ có kết cấu
nhiều tầng được lắp ghép từ nhiều phiến đá xếp so le theo mạch hình chữ Công (工), các phiến đá
được liên kết với nhau bằng mộng thắt đuôi cá, tạo thành một kết cấu uy nghi, vững chãi. Bề mặt bàn thờ được mài nhám (không đánh bóng), tạo tác hơi võng giữa (uốn cong cánh diều),
với bốn góc có xu hướng vươn nhẹ lên phá vỡ bố
cục mặt phẳng của một bàn thờ/nhang án thông thường (Hình 1).
|

|
|
Mặt trước
|
|

|
|
Mặt sau
|
|
Hình 1. Mặt trước và sau bàn thờ Phật
chùa Hương Trai
(Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội)
|
Theo đó, nếu tính từ trên xuống, cơ bản có thể hình dung
tổng thể về bàn thờ Phật chùa Hương Trai qua những đặc trưng cơ bản sau:
- Phần thứ nhất, đài sen gồm 03 lớp cánh ngửa phía trên và 01 lớp cánh úp phía dưới.
Hệ thống cánh sen ngửa, cứ một cánh chính lại xen kẽ một cánh phụ xếp kề nhau.
Tất cả những cánh sen chính thường cùng một
phong cách dưới dạng cánh sen
kép, biểu hiện bằng một đường
chỉ chạy từ chân cánh sen theo mép tới đỉnh, rồi uốn cong lại ở mũi vào
phía trong tạo nên một cụm văn xoắn
kép, lòng cánh sen múp vừa phải, với trung tâm là một bông hoa cách điệu, hợp
bởi một vòng tròn lớn ở giữa, bao quanh là các vòng tròn nhỏ hơn, tỏa ra 4
hướng (trên dưới và hai bên).
Hệ thống cánh sen úp được thể hiện bằng những cánh sen cách
điệu dưới dạng cánh vuông, trang trí trên cánh sen này chỉ có hai đường chỉ
chạy men theo mép rồi cuộn lại, kề sát nhau ở trên đỉnh, lòng cánh sen để trơn.
|

|
|
Mặt đứng phía trước
bàn thờ Phật
chùa Hương Trai

|
Mặt đứng phía sau bàn thờ Phật chùa Hương
Trai
Hình 3. Bản vẽ bàn thờ Phật chùa Hương Trai
(Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
1.22.2. Đặc trưng bàn thờ Phật chùa Đại Bi
(Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội 2025; Trần Thị Biển 2017; Tống Trung Tín 1999).
Trong tổng thể mặt
bằng Phật điện chùa Đại Bi hiện nay, bàn thờ Phật
chùa Đại Bi nằm
ở vị trí gian trong cùng của
tòa Thượng điện (phía trước ban thờ
Mẫu và hai động thập điện). Bàn thờ có bố cục hình hộp chữ
nhật, về cấu trúc và chạm khắc được
chia làm 3 phần, trên cùng là phần đài sen (tựa như bông hoa sen nở
mãn khai), phần thân ở giữa thót lại, phía dưới đế dật cấp mở rộng ra.


Hình 4. Mặt trước và sau bàn thờ Phật chùa Đại Bi
(Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội)
Từ góc độ kỹ thuật tạo tác cho thấy bàn thờ có kết cấu nhiều tầng được lắp ghép từ nhiều phiến
đá xếp so le theo mạch hình chữ Công (工), tạo thành một kết cấu uy nghi, vững chãi. Bề mặt bàn thờ được mài nhám (không đánh bóng), tạo
tác hơi võng giữa (uốn cong cánh diều), với bốn góc có xu hướng vươn nhẹ lên phá vỡ bố cục mặt phẳng của một bàn thờ/nhang
án thông thường
(Hình 4 -7).
Theo đó, nếu tính từ trên xuống, cơ bản có thể hình dung
tổng thể về bàn thờ Phật chùa Đại Bi qua những đặc trưng cơ bản sau:
- Phần thứ nhất, đài sen gồm 03 lớp cánh ngửa phía trên và 01 lớp cánh úp phía dưới.
Hệ thống cánh sen ngửa, cứ một cánh chính lại xen kẽ một cánh phụ xếp kề nhau. Tất cả những cánh sen chính thường cùng một
phong cách dưới dạng cánh sen
kép, biểu hiện bằng một đường
chỉ chạy từ chân cánh sen theo mép tới đỉnh, rồi uốn cong lại ở mũi vào
phía trong tạo nên một cụm văn xoắn
kép, lòng cánh sen múp vừa phải, với trung tâm là một bông hoa cách điệu, hợp
bởi một vòng tròn lớn ở giữa, bao quanh là các vòng tròn nhỏ hơn, tỏa ra 4
hướng (trên dưới và hai bên).
Hệ thống cánh sen úp được thể hiện bằng những cánh sen cách
điệu dưới dạng cánh vuông, trang trí trên cánh sen này chỉ có hai đường chỉ
chạy men theo mép rồi cuộn lại, kề sát nhau ở trên đỉnh, lòng cánh sen để trơn.
Viền mép của hệ thống cánh sen úp chạm chìm các họa tiết hoa dây, hoa bốn cánh và lá đề cách điệu ở mặt cạnh
phía trước và hai bên, mặt sau để trơn.
- Phần thứ hai, thân bàn thờ được kết cấu dưới dạng hình hộp chữ nhật, dật cấp, trong
đó 4 mặt cạnh có cùng kiểu thức trang trí: bổ ô chạm nổi các đồ án hoa văn (rồng, sư tử hý cầu, hổ, nai, cây lá) ở phía trên và hoa văn cánh sen úp
ở phía dưới. Viền mép hệ thống cánh sen úp chạm chìm hình hoa bốn cánh ở 3 mặt cạnh (trước,
sau và trái), mặt cạnh phải để trơn. Phần thân dật cấp chạm nổi văn xoắn
ở 4 góc, chạm chìm dây xoắn không liền mạch ở mặt trước,
sau và trái, mặt phải để trơn, cụ thể:
|

|

|
|
Hình 5. Mặt bên trái bàn thờ Phật
chùa Đại Bi
|
Hình 6. Mặt bên phải bàn thờ Phật
chùa Đại Bi
|
|
(Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội)
|
Mặt đứng phía trước bổ 03 ô hình chữ nhật, chạm nổi hình
rồng ba móng và văn mây. Trong đó, ô
giữa chạm nổi đề tài lưỡng long chầu nhật (lưỡng long tranh châu), hai ô còn
lại trang trí hình tượng rồng trong
tư thế vận động hướng ra hai bên (tả, hữu), nhưng quay đầu lại chầu vào trong.
Mặt cạnh đứng phía sau bổ 2 ô hình chữ nhật, ô bên trái chạm nổi đề tài “sư tử hý cầu”, ô bên
phải chạm hình hổ, hai linh thú nêu trên chầu vào giữa, nơi mặt khắc minh
văn, trong đó có ghi rõ năm Giáp Dần (1374). Mặt cạnh đứng hai bên (tả, hữu) bổ ô tròn, bên
trong chạm nổi hình thú bốn chân (nai) ở mặt cạnh bên phải và cây lá mặt cạnh
bên trái.
Đặc biệt, bốn góc của thân bàn thờ chạm nổi thần điểu
Garuda trong hình hài ngộ nghĩnh của một đứa trẻ, vừa có dáng lực lưỡng, cân
đối, khỏe khoắn, vừa uyển chuyển, mềm mại mà chứa đựng một nội lực phi phàm. Về
mặt tạo hình, chim được tạo tác trong tư thế ngồi bệt, đầu người nhưng có mắt
lồi tròn (mắt quỷ), mỏ mập ngắn, mũi sư tử, cổ trang trí lá đề, ngực đeo lục
lạc (anh lạc), bụng phệ căng nở, bắp thịt chân tay phồng, hai tay giơ lên cân
xứng, các ngón quắp chặt để đỡ đài sen, hai chân chống sang hai bên, đạp xuống
dưới như đang chịu sức nặng ép xuống, cổ tay và chân đeo vòng, các móng chim
ưng đang đỡ viên ngọc. Đôi cánh chim dang hai bên dưới dạng chạm chìm ép vào hai cạnh bàn thờ.
- Phần thứ ba, được cấu tạo thành phần chân đế, dật 2 cấp, tạo thành dạng sập chân quỳ - dạ
cá (khum lợi chậu), chạm nổi hoa văn hình dây xoắn (cách điệu hình sóng nước) ở
4 mặt cạnh.
|

|
|
Mặt đứng
phía trước bàn thờ Phật
chùa Đại Bi
|
|

|
|
Mặt đứng phía sau bàn thờ Phật chùa
Đại Bi
|
|
Hình 7. Bản vẽ bàn thờ Phật
chùa Đại Bi
|
|
(Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội)
|
3 3. Bàn thờ Phật chùa Hương Trai và chùa Đại Bi là hiện vật gốc độc bản, có
hình thức thể hiện độc đáo
Bàn thờ Phật chùa Hương
Trai mang phong
cách thời Trần, bệ có kích thước
cao 1,60m, mặt rộng 1,32m và dài 3,66m, bên trên là
nơi đặt bộ Tam thế. Bàn thờ trang trí các cánh sen cuộn, phần thân có chim thần Garuda ở góc,
phía trong chạm 4 hình tượng rồng uốn lượn. Hiện vật có nhiều hoa
văn đặc thù của thời Trần, trên bàn thờ có ghi việc cúng ruộng tiền cho nhà chùa niên hiệu Đại Trị thứ 32 (1360) và tạo dựng vào năm 1370. Đây là hiện vật gốc độc bản đã tồn tại từ lâu đời tại chùa, được
các nghệ nhân dân gian tạo tác hoàn toàn bằng kỹ thuật điêu khắc đá thủ công
truyền thống hết sức công phu, tỷ mỷ, chi tiết và độc đáo. Hơn nữa, hiện vật là
một kiệt tác điêu khắc đá thời Trần,
minh chứng cho sự phát triển huy hoàng của chùa Hương Trai trong một khoảng thời gian dài.
Bàn thờ Phật chùa Đại Bi cho thấy góc độ kỹ thuật tạo tác
bàn thờ có kết cấu nhiều tầng được lắp ghép từ nhiều phiến đá xếp so le theo
mạch hình chữ Công, tạo thành một kết cấu uy
nghi, vững chãi. Bề mặt bàn thờ được mài nhám (không đánh bóng), tạo tác
hơi võng giữa (uốn cong cánh diều),
với bốn góc có xu hướng vươn nhẹ lên
phá vỡ bố cục mặt phẳng của một bàn thờ/nhang án thông thường. Đây
cũng là một bàn thờ đá có kích thước lớn với số đo chiều cao: 1,29m; chiều dài
mặt bệ: 2,66m; chiều dài đế bệ: 2,61m; chiều rộng mặt bệ: 1,18m; chiều rộng đế bệ: 1,34m. Đặc biệt, bốn góc của thân
bàn thờ chạm nổi thần điểu Garuda trong hình hài ngộ nghĩnh của một đứa trẻ,
vừa có dáng lực lưỡng, cân đối, khỏe
khoắn, vừa uyển chuyển, mềm mại mà chứa đựng
một nội lực phi phàm. Về mặt tạo hình, chim được tạo tác trong tư thế
ngồi bệt, đầu người nhưng có mắt lồi tròn (mắt quỷ), mỏ mập ngắn, mũi sư tử, cổ
trang trí lá đề, ngực đeo lục lạc (anh lạc), bụng phệ căng nở, bắp thịt chân tay phồng, hai tay giơ lên cân xứng, các
ngón quắp chặt để đỡ đài sen, hai chân chống sang hai bên, đạp xuống dưới như
đang chịu sức nặng ép xuống, cổ tay và chân đeo vòng, các móng chim ưng
đang đỡ viên ngọc. Đôi cánh chim dang
hai bên dưới dạng chạm chìm ép
vào hai cạnh bàn thờ.
Đây là những bàn thờ Phật bằng đá cổ quý hiếm, có niên đại tuyệt
đối của thời Trần hiện còn
được lưu giữ đến ngày nay trên địa bàn huyện Hoài Đức nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung.
4.
Niên đại bàn thờ Phật chùa Hương Trai và chùa Đại Bi
Chùa Hương Trai được khởi dựng ít nhất từ nửa cuối thế kỷ
XIV (thời Trần). Trải qua thời gian và các đợt
trùng tu, tôn tạo, diện mạo kiến trúc chùa Hương Trai hiện nay đã có
nhiều thay đổi, nhưng vẫn bảo tồn được những dấu
tích kiến trúc và các mảng chạm khắc có niên đại sớm, điển hình là 02 bộ vì giá chiêng thế kỷ XVI
(thời Mạc) còn khá hoàn chỉnh tại tòa Thượng điện của di tích. Niên đại tạo
dựng bàn thờ Phật vào năm Canh Tuất, niên hiệu Đại Định năm thứ hai (1370).
Chùa Đại Bi được khởi dựng ít nhất từ nửa cuối thế kỷ XIV
(thời Trần). Trải qua thời gian và các đợt trùng tu, tôn tạo, diện
mạo kiến trúc chùa Đại Bi hiện nay mang dáng dấp
công trình kiến trúc thời Nguyễn.
Bàn thờ Phật tại chùa được tạo dựng vào năm Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh năm
thứ 2 (1374).
5.
Những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật
Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai và chùa Đại Bi (Hà
Nội) là những hiện vật có kích thước lớn, từ phương diện kỹ thuật tạo tác, có
thể phân chia kết cấu của bàn thờ theo cấu trúc nhiều tầng. Tuy nhiên, ở góc độ
mỹ thuật và văn hóa tâm linh, bảo vật gồm ba phần, tính từ dưới lên. Phần một tương ứng chân đế, tầng hai, ba
và bốn là thân và tầng cuối là mặt bàn thờ, tổng thể hiện vật như một đài sen
cách điệu. Bàn thờ được đặt giữa trung tâm ngôi chùa, tượng trưng cho sự thanh khiết của Phật giáo.
Các hình tượng chạm khắc trên hiện vật có một số nét tương
đồng với các bàn thờ Phật bằng đá
thời Trần như rồng, chim thần Garuda, cánh sen, hoa cúc, hoa lá dây thiêng...
Từ khi được chế tác đến nay, hiện vật vẫn được bảo quản tốt, là nơi đặt tượng
phật và lễ phẩm của chùa.
Hiện vật được những nghệ nhân dân gian xưa sử dụng các kỹ
thuật thô sơ chế tác như ghè đẽo, cưa, mài, khoan, đục, đánh bóng nhưng vẫn đạt trình độ tinh xảo. Bàn thờ thể hiện sự kết hợp hài
hòa trong nghệ thuật chạm khắc cổ
và những họa tiết trang trí
gắn với thế giới Phật giáo,
mô tả cuộc sống cư dân
vùng đồng bằng Bắc Bộ, là nét đặc biệt không tìm thấy ở các hiện vật khác. Đồng thời, đây là những tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh, có giá trị cao về lịch sử văn hóa, nghệ thuật và kinh tế.
Trải qua hàng trăm năm với nhiều biến động, thăng trầm lịch
sử, bàn thờ Phật bằng đá ở chùa Hương Trai và chùa Đại Bi (Hà Nội) luôn được
người dân phát huy giá trị trong những ngày lễ,
hội, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Những đặc điểm về kỹ thuật chế tác, nghệ
thuật tạo hình trên hiện vật được xác định là căn cứ quan trọng trong việc
nghiên cứu đối sánh, phân tích để đoán định niên đại, phong cách bàn thờ Phật
bằng đá thời Trần nói riêng và di sản văn hóa – nghệ thuật giai đoạn này nói
riêng.
Về niên đại, hiện tại có 7 Bàn thờ Phật bằng đá có khắc ghi
niên đại được làm từ thời Trần thì bàn thờ Phật chùa Hương Trai là chiếc có
niên đại cổ nhất, được tạo tác từ dầu năm 1370. Bàn thờ Phật chùa Đại Bi đứng
thứ 3, được tạo tác vào năm 1374.
Niên đại sớm hơn so với Bàn thờ Phật chùa Xuân Lũng (Bảo
vật quốc gia), hiện vật duy nhất có niên đại tuyệt đối năm Xương Phù thứ 10
(1387), khắc rõ tên những người tham gia tạo tác (Sử đài Điển ngự thư Đô chính
thủ Nguyễn Lạp, tên tự Đạo Không Cư sĩ; Thái học điển trù Tiểu Chi hầu Nguyễn Chiêu, tự là Ngộ Không Cư sĩ, cùng vợ là Nguyễn Thị Sửu, tên tự
là Bà Công Tín) cung tiến cho Tam
bảo (Thuyết minh Bàn thờ Phật chùa Xuân Lũng).
Kết luận
Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai và chùa Đại Bi tiêu
biểu cho bàn thờ Phật bằng đá thời Trần có giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa
và trang trí, nghệ thuật điêu khắc, là trang sử đá về ngôi chùa cổ thời Trần,
về làng truyền thồng vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Việt Nam.
Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai và chùa Đại Bi là
những hiện vật gốc, độc bản, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, những cổ vật, báu vật tiêu biểu cho nghệ thuật chạm khắc bàn thờ đá
thời Trần, có giá trị nổi bật nhiều mặt về lịch sử - văn hoá - nghệ
thuật, đáp ứng đầy đủ tiêu chí của một bảo vật quốc gia. Chính vì vậy, đề nghị
công nhận bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai và chùa Đại Bi là bảo vật quốc
gia nhằm tôn vinh những giá trị tiêu biểu vốn có của hiện vật. Qua đó, nâng cao
ý thức bảo vệ di sản của công chúng, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp
cho việc bảo tồn, phát huy giá trị
tiêu biểu, độc đáo của hiện vật trong thời gian tới.
TÀI LIỆU DẪN
BAN Q BAN QUẢN LÝ DI
TÍCH DANH THẮNG HÀ NỘI 2025. Bản thuyết minh về hiện vật đề nghị
công nhận bảo vật quốc gia.
THUYẾT MINH BÀN THỜ PHẬT CHÙA XUÂN LŨNG. Tư liệu Cục Di sản văn hóa.
TỐNG TRUNG TÍN 1999. Nghệ
thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
TRẦN THỊ BIỂN 2017. Tạo hình và trang trí trên ban thờ Phật bằng đá (chùa Việt cuối thế kỉ XIV). Hà Nội.
THE BUDDHIST ALTARS OF ĐẠI BI AND HƯƠNG TRAI PAGODAS
(HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI): HISTORICAL, CULTURAL, AND ARTISTIC VALUES
The Buddhist altars of Đại Bi Pagoda and Hương Trai Pagoda were created in the
latter half of the 14th century, contemporaneous with the construction
of the pagodas. The altar at Hương Trai
Pagoda, made in 1370, is the earliest, while the altar at Đại Bi Pagoda dates
to 1374. These original and unique artifacts are rare examples with precise
dating to the Trần dynasty.
Both altars feature a rectangular box-shaped design,
divided into three main sections: the lotus pedestal, the body, and the base.
They are constructed from multiple stone slabs fitted
together in the shape of the Chinese character “Công”, creating a sturdy
structure. The altar surfaces are finely textured, slightly concave at the
center, and gently raised at the corners, giving them a distinctive form
compared to conventional altars. Decorative carvings - such as layers of lotus petals,
relief panels or dragons, cloud patterns, slylized foliage, lions playing with
balls, tigers, deer, and the mythical
Garuda bird - showcase the meticulous craftsmanship, sophistication, and unique
artistry of traditional stone carvers of the time.
These two altars are not only complete works of sculpture
but also hold great cultural and historical significance. They stand as vivid testimony to the flourishing development of Hương Trai and Đại Bi Pagodas, providing valuable information about
the dating and benefactors of the Trần period.
Positioned at the center of the pagodas, they symbolize the purity of Buddhism
and continue to be preserved and appreciated in community cultural practices to this day. The
carved motifs exhibit the distinctive
characteristics of Trần
dynasty art, harmoniously blending Buddhist elements with the daily life of the Red River Delta’s inhabitants, resulting in a uniqueness unparalleled by other artifacts.
Given their outstanding significance, this paper proposes
that the stone Buddhist altars of Hương Trai Pagoda and Đại Bi Pagoda be
recognized as national treasures, in order to honor and preserve these
invaluable cultural heritage assets.