Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, triều
đại nhà Lý (1009 - 1225) được coi là đặt nền móng cho việc hoàn thiện các thể
chế, tạo tiền đề cho các bước phát triển của nhà nước phong kiến ở các giai
đoạn sau trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục,
luật pháp,.... Trong đó nổi bật cho đến hiện nay là thành tựu về việc xây dựng
các công trình kiến trúc quy mô rất lớn được quy hoạch hết sức khoa học, nghệ
thuật chạm khắc điêu luyện, là niềm cảm hứng nghiên cứu cho nhiều thế hệ, mà
nổi bật là các dấu tích còn biết đến ngày nay qua các phát hiện và nghiên cứu
của khảo cổ học như: Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, các địa điểm chùa -
tháp: Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), Tường Long (Hải Phòng), Cầu Từ (Bắc
Giang), Long Đọi Sơn (Hà Nam), Chương Sơn (Nam Định), Bà Tấm (Hà Nội),...
1. Tư liệu
Trải qua thời gian và các biến động của tự nhiên và xã hội, đã
không còn công trình kiến trúc nào của thời Lý còn tồn tại nguyên vẹn đến nay,
do vậy để nghiên cứu, nhận diện và xác định giá trị của hệ thống các công trình
kiến trúc chủ yếu dựa vào 3 nguồn tư liệu chính:
- Tư liệu thư tịch cổ.
- Tư liệu văn bia.
- Tư liệu qua các phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học
Trong 3 nguồn tư liệu trên, tư liệu khảo cổ học là quan trọng
nhất. Thứ hai là nguồn tư liệu văn bia. Thứ ba là nguồn tài liệu thư tịch cổ,
qua 2 bộ sử chính là Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử lược, đây
là nguồn tài liệu phong phú, được tập hợp từ nhiều nguồn tư liệu và dân gian,
các ghi chép gắn với các hoạt động của nhà vua do vậy thường sơ sài.
1.1. Tư liệu thư tịch cổ
Tại kinh đô Thăng Long, thống kê từ Đại Việt sử ký toàn thư
và Việt sử lược, trong 216 năm của nhà Lý có đến khoảng 205 công trình
kiến trúc được sử liệu ghi chép như sau:
Bảng 1. Số
lượng các công trình chính được xây dựng tại Thăng Long
|
STT
|
Công trình
|
Số lượng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Cung
|
21
|
Sớm nhất là các cung xây dựng năm 1010, muộn nhất là năm 1220
dưới triều vua Lý Hạo Sảm, miếu hiệu Lý Huệ Tông.
|
|
2
|
Điện
|
51
|
Điện quan trọng nhất là Triều Nguyên (Càn Nguyên), đến năm 1029
được xây dựng lại và đổi là điện Thiên An. Các điện được xây dựng đợt cuối
cùng là năm 1203
|
|
3
|
Lầu
|
6
|
Có 2 lầu chuông đối xứng nhau qua sân Long Trì
|
|
4
|
Thềm
|
6
|
Đáng lưu ý là thềm/sân Long Trì, là khoảng ở giữa cổng Đoan Môn
và nền điện Thiên An
|
|
5
|
Hàng
lang
|
8
|
Hành lang 2 bên và xung quanh sân/thềm Long Trì
|
|
6
|
Cửa
|
7
|
Lưu ý các cửa qua đó xác định phạm vi không gian Cấm thành: Đại
Hưng, Diệu Đức, Tường Phù, Quảng Phúc.
|
|
7
|
Chùa
|
35
|
Sớm nhất là chùa Hưng Thiên và Thắng Nghiêm xây năm 1010, muộn
nhất là chùa Thắng Thọ xây năm 1203, nơi vua Lý Long Cán, miếu hiệu là Lý Cao
Tông, băng.
|
|
8
|
Đàn
|
3
|
Đàn Xã Tắc xây dựng năm 1048
|
|
9
|
Cầu
|
5
|
Đáng chú ý là cầu Phượng Hoàng nối điện Thiên Khánh với điện
Trường Xuân
|
|
10
|
Các
công trình khác
|
63
|
Phủ, nhà, kho, đình, nhà tắm, quán, bếp,...
|
|
Tổng
|
205
|
|
Ngoài các công trình ở Thăng Long, nhà Lý cũng đã cho xây dựng
nhiều công trình khác tại các địa phương, thống kê từ 2 nguồn sử liệu trên, có
khoảng 85 công trình kiến trúc được ghi chép.
Bảng 2. Số lượng các công trình chính được xây
dựng ngoài Thăng Long
|
STT
|
Công trình
|
Số lượng
|
Ghi chú
|
|
1
|
Chùa - tháp
|
48
|
Một số ngôi chùa nổi tiếng đến nay được khai
quật, nghiên cứu như: Chùa - tháp Long Đọi Sơn, chùa - tháp Vạn Phong thành
thiện, chùa - tháp Tường Long, chùa Dạm,...
|
|
2
|
Hành cung
|
14
|
Một số hành cung được nhà vua nhiều lần đến:
Ứng Phong 14 lần, Lý Nhân 11 lần, Khải Thụy 4 lần
|
|
3
|
Lăng
|
3
|
Thiên Đức, Thọ Lăng, Sơn Lăng, đều được xây
dựng trên địa bàn phường Đình Bảng ngày nay.
|
|
4
|
Miếu
|
2
|
Thái
Miếu xây ở lăng Thiên Đức và miếu Thái Tổ.
|
|
5
|
Kho
|
2
|
Kho Trùng Hưng (Tiên Du) và kho Đọi Sơn (chùa Đọi Sơn)
|
|
6
|
Viện
|
1
|
Xây ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích)
|
|
7
|
Hành
dinh
|
3
|
Cổ Lãm, Nghệ An và ở trại Yên Hưng
|
|
8
|
Các
công trình khác
|
12
|
Đình, trạm, đền, phủ đệ,...
|
|
Tổng
|
85
|
|
Các ghi chép của sử liệu
trên đây chỉ là tương đối, không đầy đủ, các công trình được biên chép đều liên
quan đến các hoạt động của nhà vua, do đó còn rất nhiều công trình khác được
xây dựng mà không được sử liệu ghi chép, như: Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã cho xây
dựng 49 tháp thờ và 150 ngôi chùa1, một số di tích được khảo cổ học
khai quật, nghiên cứu cũng không thấy tài liệu sử ghi chép: chùa Linh Xứng
(Thanh Hóa), chùa Bảo Ninh Sùng Phúc (Tuyên Quang), chùa Bà Tấm (Hà Nội),...
Tuy nhiên, qua sử liệu cũng có thể nhận thấy các công trình kiến trúc được xây
dựng với số lượng nhiều, đa dạng về loại hình, trải dài trên nhiều địa bàn khác
nhau.
1.2. Tư liệu văn bia
Đây là nguồn tư liệu quan trọng thứ 2, sau tư liệu khảo cổ học,
cung cấp nhiều tư liệu về di tích kiến trúc, đặc biệt là chùa - tháp. Các văn
bia đều được lập ngay khi công trình kiến trúc được xây dựng, hoặc sau đó ít
năm và đều do các tác giả sống cùng thời soạn, khắc.
Đến nay, có khoảng 15 văn bia2 của thời Lý đã được
nghiên cứu và công bố, sớm nhất là tấm bia Minh tịnh tự bi văn, khắc năm
1090 (thôn Tế Độ, xã Hoàng Phúc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa), muộn nhất là tấm
bia Thiệu Long tự bi minh3, khắc năm 1226 (xã Tam Hiệp, huyện
Phúc Thọ, Hà Nội).
Qua tư liệu văn bia, một số vấn đề về kiến trúc thời Lý được nhận
diện như sau:
a) Hồng lương 虹梁 - Nguyệt lương 月梁
Phân tích tư liệu minh văn thời Lý cho thấy trên bộ vì của kiến
trúc gỗ thời Lý tồn tại một loại cấu kiện gọi là “hồng lương” 虹梁 hay “nguyệt lương” 月梁. “Hồng lương” hay
“nguyệt lương” là tên gọi của rường cong, ví hình dáng chiếc rường như cầu vồng
(“hồng”) hay trăng lưỡi liềm (“nguyệt”).
Có thể xác nhận sự tồn tại của “hồng lương” hay “nguyệt lương”
dưới thời Lý qua ba tư liệu minh văn sau.
- Thứ nhất, trong Minh Tịnh tự bi văn (năm 1090) có câu “huyền
tinh tác đấu, yển nguyệt vi lương” (Thích Đức Thiện và nnk: 66-86) 懸星作斗、偃月為梁 nghĩa là “treo sao làm đấu, nép trăng làm rường”.
- Trong, Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (năm 1107) có câu “lương
yển phân hình, ngộ hồng song khóa” (Thích Đức Thiện và nnk: 106-123) 樑偃分形、誤虹双跨 nghĩa là “rường nép phân hình, tưởng như cầu vồng đôi nhịp”. Mặc
dù không ghi trực tiếp là “hồng lương” hay “nguyệt lương”, nhưng hai minh văn
nêu trên đã nhắc đến một loại cấu kiện rường có hình giống “nguyệt” (trăng)
hoặc “hồng” (cầu vồng).
- Tên gọi “hồng lương” chính thức xuất hiện trong một văn bia thời
Lý là Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (năm 1118). Trong minh văn này
có câu “quán kỳ ẩm thủy hồng lương nhi hồi xuất, lâm phong uyên ngõa nhi dực
phi” (Thích Đức Thiện và nnk: 138-168) 観其飲雨虹梁而廻出、臨風鴛瓦而欲翔 nghĩa là “trông kìa: rường cầu vồng uống mưa hồi xuất, ngói uyên
ương đón gió muốn bay”.
b) Đấu củng 斗栱
Kết cấu “đấu củng” bao gồm hai thành phần “lô” 櫨 (đấu lớn) và “củng” 栱
được thể hiện rõ nhất trong hai tư liệu sau:
- Minh Tịnh tự bi văn (năm 1090) có câu “huyền tinh tác
đấu, yển nguyệt vi lương” (Thích Đức Thiện và nnk: 66-86) 懸星作斗、偃月為梁 tức là “treo sao làm đấu, uốn trăng làm rường”. Trong trường hợp
này, đấu được ví là sao, được sử dụng kết hợp với rường cong, được ví là trăng
lưỡi liềm.
- Đại Việt quốc Lý gia Đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi
(năm 1121) có câu “lũ trinh mai nhi tác đấu, trác thúy vũ dĩ thành doanh”
(Thích Đức Thiện và nnk: 169-230) 鏤貞玟而作斗、琢翠碔以成楹 nghĩa là “chạm đá đỏ làm đấu, mài đá vũ xanh làm hiên”. Do tháp
Sùng Thiện Diên Linh được xây bằng đá nên trong minh văn này, vật liệu làm
“đấu” được miêu tả là “trinh mai” (đá đỏ).
- Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh (năm 1113) có câu “đan
lô phụng nhật, họa củng thừa vân” 丹櫨捧日,画栱承雲. “Lô” trong “đan lô” là đấu lớn (hiện nay chúng ta hay gọi là
“đấu vuông thót đáy lớn”) đặt trực tiếp lên cột. Cấu kiện “lô” này cũng được
ghi chép trên Viên Quang tự bi minh (năm 1210), trong câu “triều vân sinh vu
lương đống, mộ hà ánh vu củng lô” 朝雲生於梁棟、暮霞映於栱櫨, nghĩa là “mây sớm sinh tại rường nóc, ráng chiều rọi ở củng
lô”.
Đấu củng thời Lý không chỉ là các cấu kiện để nguyên màu gỗ, trong
một số trường hợp, nó còn được sơn son. Trong Tư Lang châu Sùng Khánh tự
chung minh (năm 1113) có chữ “đan lô”. “Đan” 丹
là màu đỏ.
Ngoài ra, đấu củng còn được điêu khắc thành hình “vân” (mây), hoặc
có các họa tiết trang trí dạng “vân” (mây) hoặc “hà” (ráng chiều).
- Tư Lang châu Sùng Khánh tự chung minh (năm 1113) dùng chữ
“họa củng” 画栱, tức là củng được vẽ - trang trí. Điều đáng chú
ý ở đây là chữ “họa củng” được dùng trong câu “họa củng thừa vân”, nghĩa là
“củng vẽ đội mây”.
- Viên Quang tự bi minh (năm 1210) cũng chép “triều vân
sinh vu lương đống, mộ hà ánh vu củng lô” (Thích Đức Thiện và nnk: 316-331)
朝雲生於梁棟、暮霞映於栱櫨, nghĩa là “mây sớm sinh
tại rường nóc, ráng chiều rọi ở củng lô”.
Cột trong công trình kiến trúc thời Lý được sơn vẽ các họa tiết
trang trí, trong Báo Ân thiền tự bi ký (năm 1210) có thể thấy trong câu
“trụ sắc điểm phương hoa diệu thái, minh châu ánh chiếu sơn hà” (Thích
Đức Thiện và nnk: 332-351) 柱色点芳花耀彩、明珠映照山河
nghĩa là “màu cột tô điểm: hoa thơm đua sắc, minh châu chiếu rọi non sông”.
Ngoài ra, sắc sơn đỏ của tự viện cũng được nhắc đến trong Thiệu
Long tự bi minh (năm 1226) với câu “đan hoạch tân tiên nhi huyền thái”
丹雘新鮮而玄彩, nghĩa là “màu son tươi nguyên một màu”.
c) Bộ vì kiến trúc thời Lý
Thông qua các tư liệu văn bia trên đây đã cho thấy sự tồn tại của
các cấu kiện, như: “đấu”, “lô”, “củng”, kết cấu “củng lô”, “hồng lương” (hoặc
“nguyệt lương” - rường cong) trong kết cấu vì kèo thời Lý, bằng chứng về việc
sơn son các cấu kiện cột, đấu củng, trang trí hoa văn hình “vân” (mây), “hà”
(ráng chiều) trên rường, đấu củng, trang trí “long”, “hạc”, “tiên nữ” trên
cột.
Đặc biệt, trong Minh Tịnh tự bi văn (năm 1090), rường cong
và đấu được miêu tả thành một bộ, được ví như trăng và sao. Điều này cho thấy:
nhiều khả năng tại chùa Minh Tịnh được xây dựng cuối thế kỷ XI, rường cong được
bắc trên đấu, chứ không ăn mộng trực tiếp vào cột.
“Lương yển phân hình, ngộ hồng song khóa” (Thích Đức Thiện
và nnk: 66-86) 樑偃分形、誤虹双跨: Chữ “khóa” ở đây nghĩa
là “nhịp” trong nhịp cầu. Vì vậy, câu này có thể hiểu là “rường xếp phân hình, tưởng như cầu vồng đôi
nhịp”. “Đôi nhịp” có thể có 2 ý nghĩa: Một là nó chỉ kết cấu “chồng
rường” với 2 rường cong như ta thấy ở vì nóc thượng điện các chùa Dâu, Thái
Lạc, Bối Khê đã được nhiều nhà nghiên cứu công bố; Hai là nó chỉ kết cấu
2 nhịp vì sử dụng rường cong.
d) Ngói lợp mái kiến
trúc thời Lý
Các kiến trúc thời Lý có thể được lợp bằng một trong số các loại
ngói:
- “Kim ngõa” 金瓦 - Ngói vàng và “Ngân ngõa” 銀瓦 - Ngói bạc
Minh văn tháp Sùng Thiện Diên Linh (năm 1121) - một nguồn
tư liệu chữ viết đồng đại - cũng xác nhận “ngân ngõa” được sử dụng tại kiến
trúc này qua câu: “cấu Chúng Tiên tam cấp chi bảo đài, ngân ngõa điệp nhi
quang chiếu khung mân” (Thích Đức Thiện và nnk: 169-230) 構衆仙三級之宝台、銀瓦疊而光照穹旻, nghĩa là “xây đài Chúng Tiên ba cấp, ngói bạc trùng điệp chiếu
rọi vòm xanh”. Và hai tháp của chùa Diên Hựu là “lưu ly bảo tháp” 瑠璃宝塔.
- “Bích ngõa” 碧瓦 - Ngói men xanh
Thiên Phúc tự hồng chung minh văn (năm 1109) có nhắc đến sự tồn tại của một loại ngói gọi là “bích
ngõa” (ngói xanh) trong câu “thải tử kỉ mộc, đào bích ngõa lô” (Thích
Đức Thiện và nnk: 124 - 137) 採梓杞木、陶碧瓦爐,
tạm dịch là “tìm chọn gỗ quý, nung lò ngói xanh”. “Bích” là màu xanh ngọc,
“bích ngõa” có thể hiểu là ngói phủ men xanh màu ngọc bích.
- “Uyên
ngõa” 鴛瓦 - Ngói uyên ương
Trong, Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (năm 1118) sử dụng
thuật ngữ “uyên ngõa” để chỉ ngói uyên ương,
trong câu “lâm phong uyên ngõa nhi dực phi” (Thích Đức Thiện và nnk: 138
- 168) 臨風鴛瓦而欲翔, tức là “ngói uyên ương đón gió như muốn bay”. Như vậy,
chúng ta có thể biết loại hình di vật ngói có trang trí hình uyên ương đương
thời (thế kỷ XII) được gọi là “uyên ngõa”.
- Ngói
vảy và “Liên ngõa” 蓮瓦
- ngói sen
Khảo sát minh văn thời Lý, cho thấy tư liệu sớm nhất đề cập đến
nhóm “ngói vảy” nêu trên là Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (năm
1125) với câu “thiềm huy hân sí, ngõa điệp bài lân” (Thích Đức Thiện và
nnk: 231-249) 簷翬掀翅、瓦疊排鱗, nghĩa là “mái hiên bay
cao như cánh chim, ngói xếp như bày vảy cá”. Như vậy, chúng ta thấy rằng ngói
vảy đã được sử dụng trong các công trình tự viện muộn nhất từ nửa đầu thế kỷ
XII.
“Liên ngõa” - ngói sen được nhắc đến sớm nhất qua Thiệu Long tự
bi minh (năm 1226) với câu “liên ngõa vạn tầng lân tự, hiểu lộ tích tích
nghi châu” 蓮瓦万層鱗似、暁露滴滴疑珠, nghĩa là “Ngói sen
ngàn lớp tựa vẩy cá, sương sớm giọt giọt ngỡ hạt châu”.
đ) Đặc điểm cấu trúc bộ
mái thời Lý
Phân tích tư liệu minh văn cho thấy đặc điểm “mái cong dạng chim
bay” đã xuất hiện từ thời Lý, muộn nhất từ đầu thế kỷ XI.
Trước hết, trong Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (năm 1107) có câu
“thiềm a dực thế, như điểu tứ phi” (Thích Đức Thiện và nnk: 106-123) 檐阿翼勢、如鳥四飛, nghĩa là “mái hiên xòe cánh, như chim bay bốn phía”. Chữ “tứ
phi” cho thấy vị trí cong dạng chim bay là vị trí bốn góc mái.
Trong Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi (năm 1118) lại có câu “cô
lăng yết nhi hân sí huy phi” (Thích Đức Thiện và nnk: 138-168) 觚稜揭而掀翅翬飛 nghĩa là “cô lăng dựng lên như giang cánh tung bay”. Như vậy,
chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh có bốn góc mái dựng lên như hình chim giang bay4.
Đặc biệt, cấu trúc “mái cong hình chim bay”
trên mái ngói vảy được miêu tả trên Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh,
với câu “thiêm huy hân sí, ngõa điệp bài lân” (Thích Đức Thiện và nnk:
231-249) 簷翬掀翅、瓦疊排鱗 nghĩa là “mái hiên như cánh giang bay, ngói xếp như bày
vảy cá”.
Cũng cần nói thêm rằng, ở bốn góc mái cong
này, dưới thời Lý, người ta thường cho treo chuông vàng. Bia Sùng Thiện Diên
Linh tháp bi minh (năm 1121) có câu “giác giai kim linh” (Thích Đức
Thiện và nnk: 169-230) 角桂金鈴, nghĩa là “góc treo chuông vàng”. Thiệu
Long tự bi minh (năm 1210) có câu “kim kinh tứ giác thiềm cao” 金鈴四角簷高,
tức là “chuông vàng bốn góc hiên cao”.
1.3. Tư liệu khảo cổ học
Từ năm 1968, thời điểm khai quật tháp Chương
Sơn, đến nay khảo cổ học đã tiến hành khai quật, nghiên cứu tại 18 địa điểm,
làm lộ rõ nhiều loại hình mặt bằng di tích kiến trúc thời Lý, trong đó nổi bật
lên 2 loại hình di tích chính: di tích kiến trúc cung điện và di tích kiến trúc
chùa - tháp.
Bảng 3. Các
địa điểm khai quật phát hiện di tích kiến trúc thời Lý
|
STT
|
Địa phương
|
Các địa điểm phát hiện di tích kiến trúc
|
|
1
|
Hà Nội (4 địa điểm)
|
1. Chùa Bà Tấm
|
|
2. Đàn Nam Giao
|
|
3. Đàn Xã Tắc
|
|
4. Khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Khu trung tâm thành cổ,
Khu vực 18 Hoàng Diệu: A, B, C, D, E, G)
|
|
2
|
Bắc Ninh (2 địa điểm)
|
1. Chùa Phật Tích
|
|
2. Chùa Dạm
|
|
3
|
Hà Nam (1 địa điểm)
|
1. Chùa - Tháp Long Đọi sơn (Sùng Thiện Diên Ninh)
|
|
4
|
Nam Định (2 địa điểm)
|
1. Chùa - Tháp Chương Sơn (Vạn Phong Thành Thiện)
|
|
2. Núi Phương Nhi
|
|
5
|
Hải Phòng (1 địa điểm)
|
1. Chùa - Tháp Tường Long
|
|
6
|
Hưng Yên (1 địa điểm)
|
1. Chùa Lạng
|
|
7
|
Bắc Giang (1 địa điểm)
|
1. Đền Cầu Từ
|
|
8
|
Thanh Hóa (1 địa điểm)
|
1. Chùa Linh Xứng
|
|
9
|
Tuyên Quang (1 địa điểm)
|
1. Chùa Khuân Khoai (Bảo Ninh Sùng Phúc)
|
a) Di tích kiến trúc cung điện
Cho đến nay, trải qua gần 20 năm, các đợt khai quật tại Khu di
tích Hoàng thành Thăng Long đã xác định được khoảng 70 di tích có niên đại
thuộc thời Lý (thế kỷ XI - XIII), bao gồm: 55 di tích nền móng kiến trúc và 15
công trình phụ trợ của kiến trúc: 06 di tích tường bao, 02 di tích cống nước,
05 di tích giếng nước, 01 di tích đường đi, 01 di tích có thể là móng thành.
- Mặt bằng kiến trúc: Việc xác định mặt bằng, bố cục di
tích kiến trúc gặp nhiều khó khăn do hiện trạng đều là phế tích móng nền kiến
trúc, phần lớn mặt bằng kiến trúc hoặc chưa xuất lộ đầy đủ hoặc bị thời sau phá
hủy. Trong số 55 di tích nền móng kiến trúc, được chia thành các loại mặt bằng
(Hình 1 - 4):
+ Mặt bằng hình chữ nhật: 39 di tích, chiếm tỉ lệ 70,9%.
+ Mặt bằng hình “lục giác”: 14 di tích, chiếm tỉ lệ 25,5%.
+ Mặt bằng hình “bát giác”: 01 di tích, chiếm tỉ lệ 1,82%
+ Mặt bằng hình tròn: 01 di tích, chiếm tỉ lệ 1,82%.
- Kết cấu: mặt bằng các kiến trúc có kết cấu rất đa dạng, nhiều
kiểu loại thể hiện qua kết cấu của bộ vì.
+ Loại vì 2 móng cột: có 15 di tích.
+ Loại vì 3 móng cột: 3 di tích.
+ Loại vì 4 móng cột: 10 di tích.
+ Loại vì 6 móng cột: 10 di tích.
+ Loại vì 8 móng cột: 1 di tích.
+ Loại kết cấu đặc biệt: đó là trường hợp móng cột trong các kiến
trúc mặt bằng lục giác, bát giác và hình tròn. Móng cột ở các kiến trúc độc đáo
này thường được phân bố xung quanh và đối xứng nhau qua một móng cột ở chính
giữa - như trong kiến trúc mặt bằng lục giác và bát giác, hoặc phân bố thành
vòng tròn đồng tâm nhưng cũng đối xứng qua tâm điểm ở chính giữa kiến trúc -
như trường hợp kiến trúc mặt bằng hình tròn.
- Quy mô kiến trúc: thể hiện qua số gian của 19 di tích đã xác
định được đầy đủ mặt bằng, khoảng 20 di tích mới xuất lộ một phần nên chưa xác
định được quy mô. Trong đó:
+ Loại kiến trúc 4 gian (2 gian 2 chái): 12 di tích, thường có quy
mô nhỏ, diện tích trung bình khoảng 55m2.
+ Loại kiến trúc 8 gian (4 gian 2 chái kép):
01 di tích, quy mô kiến trúc rộng khoảng 779m2.
+ Loại kiến trúc 9 gian (7 gian 2 chái): 01 di tích, rộng khoảng
520m2.
+ Loại kiến trúc 13 gian (11 gian 2 chái): 5 di tích, rộng từ
khoảng 700m2 đến 1.000m2.
b) Kiến trúc đàn tế
Đều phát hiện được tại Thăng Long, gồm: đàn Xã Tắc và đàn Nam
Giao.
- Đàn Nam Giao, ở phía Nam thành Thăng Long, đàn còn có tên
gọi là Vu đàn, Viên Khâu (hay Khưu), được xây dựng thời Lý, nay thuộc khu vực
tòa nhà Vincom Bà Triệu, qua khai quật khảo cổ học đã phát hiện công trình kiến
trúc có mặt bằng hình chữ Công “I” (Hình 5).
Bao xung quanh là hệ thống móng được đầm bằng sành rộng khoảng
0,6m, bên trong có ít nhất 46 móng cột phân bố thành hình chữ Công. Theo chiều
từ nam lên bắc:
+ Nhà phía nam: diện tích khoảng 203,85m2
(chiều bắc nam 22,65m, chiều đông tây là 8,8- 9m).
+ Ống muống (nối nhà phía nam và phía bắc): diện tích khoảng
105,3m2 (chiều bắc nam 13,10 - 13,50m, chiều đông tây đến 7,20 -
7,80m).
+ Nhà phía bắc: chiều dài bắc nam là 16,50m, chiều đông tây không
xác định được do dấu tích các móng cột có thể đã bị phá hủy.
- Đàn Xã Tắc, được xây dựng năm 1.048, nằm ngoài cửa Trường
Quảng, nay là khu vực Ô chợ Dừa. Kết quả khai quật đã làm xuất lộ dấu tích của
phần móng được xây dựng bằng sành, sứ và gạch ngói của thời Lý (Hình 6).
Đường móng rộng trung bình từ 1,4 - 1,5m, dày
từ 0,03m đến 0,10m, tổng chiều dài xuất lộ là 61,1m, tạo thành hình tứ giác.
Đáng tiếc diện tích khai quật nhỏ nên quy mô kiến trúc chưa được làm rõ.
c) Kiến trúc chùa - tháp
Đến nay, đã có 9 cuộc khai quật, nghiên cứu di tích chùa - tháp
phát hiện được di tích kiến trúc thời Lý, gồm:
- Di tích tháp Vạn Phong Thành Thiện (tháp Chương Sơn) trên đỉnh
núi Ngô Xá (huyện Ý Yên, Nam Định): phát hiện được móng tháp bằng đá được xây
dựng khoảng năm 1117 - 1121. Móng tháp có bình đồ hình vuông, các cạnh dài đều
nhau là 9,50m; bốn góc lại được đào ốp thêm ở ngoài bốn hình thước thợ sâu
trung bình 1,65m, và đều có bậc dẫn vào lòng tháp từ 4 hướng. Ngoài ra còn phát
hiện được các dấu tích như sân nền lát gạch, cống thoát nước,... (Hình 7).
- Di tích tháp Tường Long (Đồ Sơn, Hải Phòng): Tìm được các dấu
tích thời Lý được xây dựng năm 1057:
+ Chùa Vân Bản nằm về phía bắc của móng tháp, mặt bằng hình chữ
nhật, diện tích 156m2, trong đó chiều dài là 26m, chiều rộng là 6m.
Toàn bộ nền được bó vỉa bằng đá xanh.
+ Móng tháp: được xây dựng hoàn toàn bằng gạch chữ nhật, có bình
đồ hình vuông, gồm ba tầng, trong lòng rỗng, các tầng được xây giật cấp chồng
lên nhau. Theo trật tự từ dưới lên: tầng dưới cùng mỗi cạnh dài 7,86m, tầng thứ
hai mỗi cạnh dài 7,36m, tầng trên cùng mỗi cạnh dài 6,92m, bề mặt móng tháp
trên cùng rộng 2,0m.
- Chùa Lạng (Viên Giác tự) xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, Hưng Yên đã
xác định được lớp kiến trúc thứ nhất thuộc thời Lý, niên đại khoảng năm 1115.
Đó là tòa Thượng điện, có 3 cấp bậc dẫn lên: Bậc thứ nhất dài theo chiều bắc - nam
là 20,2m, rộng theo chiều đông - tây là 23,6m; Bậc thứ hai dài theo chiều bắc -
nam là 15,2m, rộng theo chiều đông - tây là 18,8m; Bậc thứ 3 có kích thước:
chiều bắc - nam là 8,2m, chiều đông - tây là 10,4m. (Hình 8).
- Đền Cầu Từ, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang, phát hiện
được kiến trúc thời Lý phân bố trong phạm vi 300m2, tạo thành bình
đồ của công trình kiến trúc có hình chữ nhật, có kết cấu gồm 1 chái và 3 gian,
trong đó gian chái rộng 3,8m, các khoảng cách gian rộng từ 4,6m đến 6,8m. Các
móng trụ được xây dựng bằng sỏi và đất sét đầm chặt, có kích thước trung bình
từ 1,2 x 1,22m đến 1,47 x 1,5m.
- Tháp chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, phát
hiện được móng tháp gạch được xây dựng trong khoảng từ năm 1057 đến 1064 (Hình
9):
+ Móng tường phía
bắc: Dài theo chiều đông - tây 9,18m, dày 2,50m, lòng tháp tường dài đông - tây
là 4,18m, cao 3,6m với 60 lượt gạch xếp chập khối đều từ trên xuống dưới. Mặt
ngoài khá bằng phẳng, mặt bên trong lòng tháp lồi lõm không đều.
+ Móng tường phía nam: Độ dài chiều đông - tây: 9,18m, bề mặt rộng
2,50m; Trong lòng tháp móng tường dài theo chiều đông - tây: 4,18m, cao 2,30m
với 41 lượt gạch xếp chập khối từ trên xuống dưới. Đây là dấu tích tường bị
thời sau phá hủy mạnh nhất và có xu hướng vát theo chiều từ bắc xuống nam, đặc
biệt góc tây - nam bị phá thấp xuống tới giật cấp 1.
+ Móng tường phía
đông: Độ dài chiều bắc - nam: 9,24m, mặt tường dày 2,50m ; tường bên trong
lòng tháp dài theo chiều bắc - nam: 4,24m, cao 3,0m, với 50 lượt gạch xếp chập
khối chồng lên nhau, góc đông - nam bị phá hủy vát thoải theo chiều từ bắc
xuống nam.
+ Móng tường phía tây: Độ dài chiều bắc - nam: 9,24m, chiều
đông - tây là 2,50m, cao 3,0m với 47 lượt gạch xếp chập khối chồng lên nhau,
cạnh bên trong lòng tháp dài chiều bắc - nam là 4,24m.
- Chùa Dạm, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh. Cuộc khai
quật đã làm xuất lộ toàn bộ, đầy đủ bình đồ của di tích kiến trúc của thời Lý
được xây dựng từ năm 1086 đến 1094, trải đều trên 4 cấp nền. Cơ bản có 5 loại
hình di tích chính (Hình 10):
+ Móng tháp đá: Chạm sóng nước, ở cấp nền 2, bình đồ hình gần
vuông, mỗi chiều rộng từ 8,4m đến 8,6m.
+ Cột đá: chạm khắc hình rồng cao 1,02m; đường kính 1,20m - 1,38m;
phần trên có các lỗ mộng cao 1,33m; đường kính 1,28m - 1,38m. Đỉnh cột có
2 rãnh chạm trực tiếp vào cột đá. Hiện nay còn có nhiều ý kiến về di tích này,
chúng tôi cho rằng có thể nó có kết cấu tương tự như chùa Một Cột hiện nay.
+ Hành lang: chạy dài 2 bên phía đông và phía tây, dẫn từ cấp nền
1 lên cấp nền 4. Kết cấu vì gồm 2 móng cột cách nhau khoảng 5,9m, các hàng cột
cách nhau trung bình 3,0m.
+ Kiến trúc cổng: Phân bố tại cấp nền 1, chính giữa hành lang của
cấp nền 2, và 3, gồm 5 di tích có cùng kiểu mặt bằng. Trong cùng là các móng
cột kép có 2 chân tảng đặt bên trên, bao quanh phía ngoài là 16 móng cột đơn.
Lòng kiến trúc rộng 5,9m, bước cột cách nhau khoảng từ 2,7m đến 3,0m.
+ Kiến trúc chính nằm ở cấp nền 4, có quy mô 3 gian 2 chái, xung
quanh có hàng cột nằm bên ngoài bó nền, rộng khoảng 504m2. Gian
chính giữa rộng 6,0m, 2 gian bên rộng 5,8m, 2 gian chái rộng khoảng 4,0m.
Mỗi vì có 4 móng cột và 2 móng cột hiên. Lòng kiến trúc rộng 6,0m
(khoảng cách giữa 2 cột cái), khoảng cách từ cột cái đến cột quân là 3,0m, từ
cột quân đến cột hiên là 2,8m.
- Chùa - tháp Long Đọi Sơn, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam
phát hiện được kiến trúc thời Lý được xây dựng khoảng từ năm 1117 đến năm 1121.
+
Nền gạch: Nằm về phía bắc của bó nền, chưa xuất lộ hết, có thể còn tiếp tục
phát triển về phía bắc, phía đông và phía tây, khá bằng phẳng và có chiều
nghiêng về phía bắc, giới hạn phía nam liền khít với bó nền. Toàn bộ nền xuất
lộ đều được lát bằng gạch vuông, màu đỏ, không có hoa văn trang trí, kích thước
trung bình từ 34 x 36m đến 39 x 39cm, chiều dày của gạch không đo được.
+ Bó nền: Được xây dựng bằng gạch chữ nhật, có màu đỏ, một số viên
có in nổi chữ Hán trong khung hình chữ ở một mặt thể hiện niên đại xây dựng “Lý
gia đệ tứ đế Long Phù Nguyên Hóa ngũ niên tạo”- năm 1121. Bó nền gồm 2
phần: phần phía đông và phía tây, giữa hai phần xuất lộ một khoảng trống rộng
khoảng 3,0m, ở đó có các viên đá được đặt nằm ngang.
Tuy nhiên do diện tích khai quật nhỏ nên chưa thể xác định được
quy mô và phạm vi xuất lộ kiến trúc.
- Chùa Bà Tấm, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cuộc khai quật
năm 2015 đã xuất lộ bình đồ của di tích kiến trúc thời Lý được xây dựng khoảng
năm 1117 đến 1121, đó là tòa Thượng điện có đôi sư tử đá (Hình 11).
Đó là dấu tích 16 móng cột kích thước của các móng trụ dao động từ
1,1m đến 1,6m, tùy từng vị trí chịu lực tạo thành một công trình kiến trúc hoàn
chỉnh.
+ Quy mô kiến trúc: Dài 35,4m, rộng 19,3m. Gồm 2 cấp nền: Cấp nền
trên cùng là nền Chính điện, có kết cấu 3 gian 2 chái, chính giữa - trung tâm
chùa đặt cặp bệ tượng sư tử bằng sa thạch. Cấp nền dưới là nền hành lang chạy
xung quanh.
+ Kết cấu: Khoảng cách gian chính giữa rộng 5,8m, các gian bên kế
tiếp rộng lần lượt 5,97m → 4,86m, gian chái rộng 3,12m.
Mỗi vì kiến trúc có 6 hàng cột, trong đó 4 móng cột trên nền chính
điện và 2 móng cột ở hành lang tạo thành tổng thể gồm 6 móng cột trên một bộ
vì.
Khoảng cách giữa 2 móng cột cái là 5,42m.
Khoảng cách giữa móng cột cái và móng cột quân là 3,0m.
Khoảng cách giữa móng cột quân đến móng cột hiên là 3,18m.
- Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, Tuyên Quang. Cuộc khai quật năm 2005 và
2012 đã tìm được dấu tích của kiến trúc được xây dựng năm 1107, thời Lý.
Dấu tích kiến trúc thời Lý xuất lộ gồm 8 móng cột, phân bố tạo
thành bố cục gồm 3 hàng theo chiều đông - tây: - Hàng móng cột thứ nhất: xuất
lộ 02 móng cột; Hàng móng cột thứ hai: đã tìm được 4 móng cột; - Hàng móng cột
thứ 3: có 2 móng cột.
Do đã bị phá hủy mạnh, nên chưa thể xác định được đầy đủ mặt bằng
của kiến trúc.
Ngoài ra còn nhiều cuộc khai quật đã tìm thấy tín hiệu thuộc thời
Lý nhưng chưa xác định được di tích là của thời Lý, như: khai quật Phương Nhi
(Nam Định), chùa Nhùng (Tuyên Quang), chùa Linh Xứng (Thanh Hóa), đền Ghênh
(Hưng Yên),...
2. Nghiên cứu và trao đổi
2.1. Năm 1009, nhà Lý được
thành lập, ngay sau đó, vua Lý Công Uẩn đã thực hiện chuyển đô từ thành Hoa Lư
(kinh đô của triều Đình - Tiền Lê) về thành Đại La (thành cũ của Cao Vương) rồi
đổi tên là Thăng Long, rồi cho xây dựng hệ thống các công trình phục vụ cho các
hoạt động triều chính và sinh hoạt của nhà vua và Hoàng gia. Trải qua suốt 216
năm, không chỉ tại Kinh đô Thăng Long, nhà lý còn cho xây dựng hệ thống chùa -
tháp, hành cung,… trên khắp cả nước, có thể nói, hoạt động xây dựng dưới thời
Lý được tiến hành rất sôi động với sự tham gia của nhiều tầng lớp: nhà vua,
thành viên hoàng gia, các quan lại, đặc biệt là tầng lớp nhân dân và thợ thủ
công, trong đó hoạt động xây dựng sôi nổi nhất diễn ra ở 2 đời vua, đó là:
+ Thời vua Lý Công Uẩn (miếu hiệu Lý Thái Tổ) với hoạt động nổi
bật trong việc xây dựng và quy hoạch kinh đô Thăng Long, với 2 lần vào các năm
1010 và 1017 - 1020, trong số 4 lần xây dựng và quy hoạch Thăng Long dưới triều
Lý.
Thống kê của thư tịch cổ, tại Thăng Long, số lượng các công trình
kiến trúc được ghi chép: 21 cung, 51 điện, 2 phủ đệ, 5 lầu, 15 gác, 6 thềm, 2
hành lang, 2 nhà, 1 cửa, 1 nhà tắm, 1 bếp, 5 kho, 7 đình, 35 chùa, 7 đền, 5
đài, 2 miếu, 3 đàn, 5 cầu, 8 quán, …
+ Thời vua Lý Càn Đức (miếu hiệu Lý Nhân Tông) với hoạt động xây
dựng chủ yếu là hệ thống chùa - tháp, một số ngôi chùa nổi tiếng hiện nay như:
chùa Dạm, chùa - tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Long Đọi), chùa - tháp Vạn
Phong Thành Thiện (chùa Ngô Xá). Đặc biệt là sự tham gia của Hoàng Thái hậu Ỷ
Lan, bà đã cho xây dựng 49 tháp và 150 ngôi chùa thờ Phật.
Ngoài khu vực Thăng Long, tại các địa phương, thư tịch cổ ghi
chép: 48 chùa - tháp, 3 lăng, 2 miếu, 2 kho, 1 viện, 3 hành dinh, 14 hành
cung,…
Xét trên phương diện chức năng, kiến trúc thời Lý nổi bật lên với
2 loại công trình: kiến trúc cung điện (được xây dựng ở Thăng Long) và hệ thống
chùa - tháp (được xây dựng ở Thăng Long và các địa phương trong cả nước).
Xét trên phương diện địa lý, các kiến trúc nhà Lý được xây dựng ở
nhiều địa hình khác nhau, nổi bật lên gồm 2 địa hình chính: trên đỉnh hoặc sườn
núi và ở vùng đồng bằng.
2.2. Nếu như tài liệu thư
tịch cổ chỉ ghi chép tên công trình khá sơ sài và liên quan đến các hoạt động
của nhà vua và Hoàng gia, thì các tài liệu văn bia tại các địa điểm di tích đã
cho một cái nhìn cụ thể hơn về quy hoạch, quá trình xây dựng, trang trí và kết
cấu của các công trình. Những tài liệu bia ký hiện còn đều ghi chép về quá
trình xây dựng chùa tháp. Lọc những thông tin
từ tư liệu văn bia, trên phương diện kiến trúc có thể rút ra mấy vấn đề chung
trong việc xây dựng chùa tháp thời Lý:
+ Các công trình kiến trúc được làm với quy mô lớn, trang hoàng
rực rỡ do nhà vua, hoàng gia, đại sư, đại thần, hậu phi trong triều Lý đứng ra
xây dựng.
+ Mô thức kiến trúc chùa - tháp rất thịnh hành. Tháp thường có mặt
bằng hình vuông, cao 7, 9 hoặc 13 tầng, các tầng có mái cong chìa ra, góc mái
treo chuông nhỏ, tường vách thường chạm rồng hoặc sơn vẽ, vật liệu kết hợp cả
gạch, đá và gỗ.
+ Bố cục chùa thời Lý thông thường là lấy điện Phật hoặc tháp làm
trung tâm, lang vũ hai bên. Phía trước thường là lầu chuông, lầu khánh, nhà
bia, cổng chính. Đôi khi cổng chính xây thêm gác ở trên làm gác chuông. Tường
vây quanh. Sân chùa trồng hoa lá cây cối, trước chùa có ao sen. Quanh chùa
trồng thông.
+ Chùa - tháp thời Lý đều có mái cong, tùy theo quy mô mà lợp ngói
uyên ương, ngói lưu ly hoặc ngói vẩy cá,.... Chân tảng kê cột đều bằng đá chạm
cánh sen, cột đá thì chạm rồng, cột gỗ thì sơn thếp. Trên tường sử dụng nhiều
bích họa về tích Phật, bích họa đều được vẽ ngũ sắc. Phía trước dùng vách gỗ có
song con tiện.
2.3. Từ các kết quả các cuộc
khai quật, nghiên cứu khảo cổ học trong hơn 40 năm qua, có thể xác lập được các
loại hình mặt bằng kiến trúc thời Lý như sau:
- Kiến trúc cung điện: Phát hiện được chủ yếu là tại Khu di tích
Hoàng thành Thăng Long (18 Hoàng Diệu) với khoảng 70 di tích đã được xác định,
và có thể là 1 di tích phát hiện được tại địa điểm Cầu Từ (vì tại địa điểm này,
thời Lý gọi là Châu Lạng, vua nhà Lý đã “làm nhà cho công chúa ở”).
+ Về mặt loại hình, có thể gồm: Cung điện, hành lang, đường đi,
tường bao, giếng nước, sân nền,… Trong số các di tích trên đây, đặc biệt là tại
Hoàng thành Thăng Long, cho thấy sự đa dạng về mặt bằng kiến trúc, phổ biến là
mặt bằng hình tứ giác, ngoài ra còn có các kiểu mặt bằng đặc biệt: hình tròn,
bát giác, lục giác.
+ Theo hiện trạng xuất lộ, mặt bằng kiến trúc nhỏ nhất có diện
tích khoảng 47m2, lớn nhất đến trên 900m2. Các thành phần
cấu tạo nên kiến trúc mà qua đó giúp cho việc nhận dạng kiến trúc cũng rất đa
dạng: móng nền, bó nền, móng bó nền, móng cột.
- Kiến trúc đàn tế: Phát hiện được tại Thăng Long, gồm đàn tế Nam
Giao (quận Hai Bà
Trưng) và đàn tế Xã Tắc. Địa điểm đàn tế Nam Giao đã tìm được công trình kiến
trúc có mặt bằng hình chữ công “I”, xung quanh được kè móng bằng sành, bao nung
và đất sét, bên trong là các công trình có kết cấu chịu lực là hệ thống móng
cột. Đàn Xã Tắc cũng đã được khai quật lớn, dấu tích gia cố móng bằng sành và
đất sét của di tích đã tìm được một phần nhưng qua đó các nhà nghiên cứu đã có
thể phục dựng giả định mặt bằng đàn tế có hình chữ nhật.
- Kiến trúc chùa - tháp: Trong đó chủ yếu phát hiện được dấu tích
của kiến trúc tháp (Phật Tích, Tường Long, Vạn Phong Thành Thiện, Sùng Thiện
Diên Ninh, tháp đá chùa Dạm), dấu tích kiến trúc Thượng điện (chùa Lạng, chùa
Bà Tấm). Trong số các địa điểm, nổi bật lên là chùa Dạm, tư liệu khai quật tại
chùa Dạm đã cho chúng ta một cái nhìn rất khác về tổng thể mặt bằng chùa - tháp
thời Lý, đây có thể là một dị biệt.
+ Loại hình tháp thời Lý có thể gồm 2 loại: Loại móng được xây
dựng bằng đá, như: tháp chùa Dạm, tháp Vạn Phòng Thành Thiện. Loại tháp hoàn
toàn được làm bằng gạch: tháp Phật Tích, tháp Tường Long, tháp Sùng Thiện Diên
Linh.
Vị trí các tháp cũng được xây dựng khác nhau: Có tháp được xây
dựng ở sau chùa, là điểm nổi bật nhất, như: tháp Phật Tích, tháp Tường Long,
tháp Vạn Phong Thành Thiện. Có tháp lại được xây dựng ở một bên của trục chính
tâm: tháp đá chùa Dạm. Có tháp lại được xây dựng ở chính giữa của tổng thể
chùa: tháp Sùng Thiện Diên Ninh.
Về mặt bằng: Các móng tháp đều có hình vuông hoặc gần vuông.
Chiều cao tháp: Chúng ta không có cứ liệu khảo cổ học để biết tháp
cao bao nhiêu mét, có bao nhiêu tầng. Tuy nhiên, các tài liệu sử cho biết, tháp
thời Lý có thể có từ 9 đến 13 tầng, như: tháp Chiêu Ân cao 9 tầng, tháp Báo
Thiên cao 13 tầng. Chiều cao của tháp hiện nay mới chỉ là suy đoán, nhưng có
thể tháp thời Lý cao phổ biến ở khoảng từ 17m đến 24m.
Địa điểm xây dựng: Những chùa có tháp hoặc tìm được dấu tích tháp
thì đều nằm ở sườn hoặc đỉnh núi, có nhiều cấp nền (3 hoặc 4 cấp nền): núi Tiên
Du với tháp Phật Tích, núi Hàm Long với tháp đá chùa Dạm, núi Long Đọi với tháp
Sùng Thiện Diên Ninh, núi Ngô Xá với tháp Vạn Phong Thành Thiện.
+ Loại hình Thượng điện: Đến nay mới xác định được 2 địa điểm mà
dấu tích Thượng điện là trung tâm của chùa. Ở Thượng điện, hiện nay vẫn còn dấu
tích của sư tử đá, bên trên có thể đặt tượng thờ. Đó là: Thượng điện chùa Lạng,
Thượng điện chùa Bà Tấm.
Kiến trúc Thượng điện thường có kết cấu là các móng cột chịu lực,
liên kết tạo thành nhiều gian, kết cấu đều là 3 gian 2 chái, gian chính giữa là
nơi đặt tượng thờ, xung quanh có hành lang, 4 phía có bậc dẫn lên.
Địa điểm xây dựng: Với các chùa mà Thượng
điện là trung tâm thì thường nằm ở vùng thấp (so với các chùa trên núi), địa
hình khá bằng phẳng, chùa được xây dựng ở vị trí cao nhất của khu vực.
Trong số các di tích, chùa Dạm là một loại hình hết sức cá biệt:
chùa chính 3 gian 2 chái được xây dựng ở cấp nền 4, tháp được xây dựng ở phía tây
của trục chính tâm trên cấp nền 2. Hai bên, dẫn từ cấp nền 1 đến cấp nền 4 là
hệ thống hành lang, các cấp nền đều được kè đá.
2.4. Vật liệu xây dựng kiến
trúc thời Lý hết sức đa dạng, với nhiều loại được kết hợp với nhau: đá, gạch,
sỏi, đất sét, sành, bao nung, gỗ và mang tính phố biến ở mọi công trình kiến
trúc. Tư liệu khảo cổ học đã chứng minh, ở bất kỳ địa điểm nào cũng có thể bắt
gặp nền được đắp bằng đất (như trường hợp chùa Linh Xứng, chùa Bảo Ninh Sùng
Phúc mặc dù dấu hiệu mặt bằng kiến trúc không tìm được, nhưng vẫn xác định được
lớp đất sét đắp nền của thời Lý). Đặc biệt hơn nữa, các loại vật liệu không
dùng chuyên biệt, mà có thể kết hợp với nhau: gạch lát nền hình vuông có thể
được dùng gia cố móng cột, gỗ được dùng làm bó nền, sành và bao nung được dùng
làm gia cố móng bó nền hoặc các móng cột, đó là sự kết hợp tài tình của những
người thợ thời Lý.
Ngoài những vật liệu mang tính chất cung đình (gạch được sản xuất
đóng niên hiệu vua, trang trí kiến trúc với các mô-tip thống nhất), vật liệu
xây dựng thời Lý còn mang tính địa phương và tận dụng các điều kiện tự nhiên.
Đó là sự khác nhau của loại đá dùng chế tác bệ, đế bia ở chùa Ngô Xá, chùa Long
Đọi khác với đá dùng trong kiến trúc thời Lý ở Phật Tích, chùa Dạm, chùa
Lạng, chùa Bà Tấm. Đó là việc người thợ thời Lý đã đục trực tiếp vào đá gốc của
núi (chùa Dạm, chùa Ngô Xá) để đặt các cấu kiện kiến trúc. Hoặc như sỏi, nếu
như ở các công trình kiến trúc khu vực đồng bằng thường có kích thước nhỏ hơn
so với các công trình ở miền núi (Phật Tích, Thăng Long so với Bảo Ninh Sùng
Phúc).
Ghi chép của văn bia còn cho thấy sự phong phú của các loại ngói
lợp mái ở kiến trúc chùa - tháp: kim ngõa (ngói vàng), ngân ngõa (ngói bạc),
bích ngõa (ngói men xanh), uyên ngõa (ngói mà trên đó có gắn tượng chim uyên
ương), liên ngõa (ngói sen),…
Kỹ thuật xây dựng
là một thành tựu nổi bật trong xây dựng kiến trúc thời Lý. Chắt lọc từ những
tài liệu văn bia có thể thấy bộ vì và mái kiến trúc được xây dựng rất cầu kỳ
với các loại cấu kiện: rường cong, đấu củng,… các góc mái “treo chuông vàng”.
Tư liệu khảo cổ học đã cung cấp các cứ liệu bằng vật thật minh
chứng rõ nét cho việc xây dựng gia cố nền móng các công trình kiến trúc có thể
theo quy trình cơ bản: làm móng và đắp nền → định vị vị trí cột và đào hố móng
→ đặt chân tảng đá kê cột gỗ → xây dựng bó nền bằng gạch xung quanh → lát gạch
trên mặt nền.
Ngoài ra, ở các
công trình chùa tháp được xây dựng trên đỉnh hoặc sườn núi, trước khi xây dựng
người ta còn “san đất dãy cỏ” (bia chùa Báo Ân, núi An Hoạch), “phát
xén rừng mây” ... “đẽo gỗ rừng chan chát; chuyển quang sọt rộn ràng”
(bia Bảo Ninh Sùng Phúc), “Phát cỏ rậm, bạt đá to, thày bói nhằm phương, thợ
hay dàng kiểu... sành nghề thì dựng thì xây...” (bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng
tự bi minh) đó là những công việc xây dựng lớn.
Đặc sắc nhất trong kỹ thuật xây dựng thời Lý là kỹ thuật ghép nối,
kết hợp nhiều loại vật liệu khác nhau trên một công trình mà trước đó chưa từng
được biết nhằm tăng độ bền vững, mỹ thuật của công trình. Đó là sự kết hợp các
vật liệu làm móng nền: đất sét, sỏi, gạch, đá, gỗ,... là kỹ thuật ghép nối, kết
hợp vật liệu xây dựng tháp: gạch, đá được điêu khắc gắn vào thân tháp, dùng
đồng đổ rãnh cá chì liên kết khối kiến trúc (tìm thấy ở tháp Vạn Phong Thành
Thiện),...
Dẫu các phát hiện và nghiên cứu di tích kiến trúc thời Lý còn
khiêm tốn, nhưng từ những đặc điểm trên, kiến trúc thời Lý để lại những giá trị
to lớn trong tiến trình lịch sử xây dựng kiến trúc chùa - tháp, cung điện Việt
Nam trong tiến trình lịch sử kiến trúc Việt Nam.
|

|

|
|
Hình
2. Mặt
bằng kiến trúc hình lục giác, thời Lý.
(Nguồn: Phạm Văn Triệu 2016)
|
Hình
3.
Mặt bằng kiến trúc hình Bát giác, thời Lý
(Nguồn: Phạm Văn Triệu 2016)
|
|

|

|
|
Hình
4.
Mặt bằng kiến trúc hình tròn, thời Lý
(Nguồn: Phạm Văn Triệu
2016)
|
Hình 5. Dấu
tích kiến trúc thời Lý tại đại điểm đàn Nam Giao.
(Nguồn: Tống Trung Tín
2019)
|
|

|

|
|
Hình
6.
Dấu tích đàn Xã Tắc thời Lý (màu xanh)
(Nguồn: Tống Trung Tín 2019)
|
Hình
7.
Móng tháp thời Lý trên núi Ngô Xá
(Nguồn: Cao Xuân Phổ 1968)
|
|

|
|
Hình 8. Mặt cắt ngang Thượng điện thời Lý, chùa Lạng
(Nguồn: Nguyễn Duy
Hinh 1977)
|
|

Hình
9.
Móng tháp thời Lý chùa Phật Tích
(Nguồn: Phạm Văn Triệu, Đỗ Đức Tuệ, Nguyễn Văn
Đáp 2013)

Hình
10. Mặt
bằng tổng thể di tích kiến trúc thời Lý chùa Dạm
(Nguồn: Nguyễn Văn Đáp 2019)
|
|
Hình 11.
Mặt bằng Thượng điện thời Lý chùa Bà
Tấm
(Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 2016)
|
(3). Các công trình nghiên cứu đều không đưa tư liệu
này vào phần thời Lý, vì có thể các tác giả cho rằng niên đại của bia thuộc thời
Trần, tuy nhiên, tấm bia này ghi chép về một công trình kiến trúc được khởi dựng
trước đó và hoàn thành năm 1226, do vậy có thể tính công trình kiến trúc đó được
xây dựng vào thời Lý. Hơn nữa, trong nghiên cứu, công bố của mình, Trường Phong
- Nguyễn Dung cho rằng các chi tiết hoa văn trang trí bia và văn phong “hoàn
toàn không sút kém so với các bi ký xuất sắc nhất thời Lý”. Xem: Trường Phong -
Nguyễn Dung 2011, Một số vấn đề lịch sử - văn hóa qua văn bia Thiệu Long, Tạp
chí Di sản văn hóa vật thể, số 2 (35), tr.79-86.
(4). Về vị
trí “lăng”, trong Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (năm 1121) khi miêu tả về
đài Chúng Tiên có câu “thượng đính tắc linh cầm thanh lập, tứ lăng tắc lân
trường cánh tương” 上頂則霊禽声立、四稜則鱗長竟驤, nghĩa là “trên đỉnh
chim thiêng đứng hót, bốn góc lân vươn dài đua vờn”. Như vậy, “tứ lăng” có thể
hiểu là vị trí bốn góc mái.
TÀI LIỆU DẪN
BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA 2016.
Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật chùa Bà Tấm (xã Dương Xá, Gia
Lâm, Hà Nội) năm 2015. Tư
liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
CAO XUÂN PHỔ 1962. Báo cáo
khai quật di tích Ngô Xá (xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam. Thư viện
Viện Khảo cổ học, ký hiệu HS68.
NGÔ SĨ
LIÊN VÀ CÁC SỬ THẦN TRIỀU LÊ 1998. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1. Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.
NGUYỄN DUY HINH 1977. Suy nghĩ
về những lớp kiến trúc chùa Lạng. Trong Khảo cổ học, số 2: 76-87.
NGUYỄN VĂN ĐÁP 2019. Di
tích chùa Dạm trong hệ thống các chùa thời Lý. Luận án Tiến sĩ Khảo cổ học.
Tư
liệu Thư viện Quốc
gia.
PHẠM VĂN TRIỆU 2016. Di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành
Thăng Long, Hà Nội. Tư liệu Thư viện
Đại học Quốc gia Hà Nội.
PHẠM VĂN TRIỆU, ĐỖ
ĐỨC TUỆ, NGUYỄN VĂN ĐÁP 2013. Khai quật móng tháp thời Lý ở chùa Phật Tích.
Trong
Khảo cổ học, số 4: 28-36.
THÍCH ĐỨC THIỆN, ĐINH KHẮC THUÂN, NGUYỄN
QUỐC TUẤN 2011. Văn bia chùa Phật thời Lý.
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
TỐNG TRUNG
TÍN (Chủ biên)
2019. Di tích khảo cổ học đàn Xã Tắc Thăng Long. Nxb. Hà Nội, Hà Nội.
TỐNG TRUNG
TÍN (Chủ biên) 2019. Kinh đô Thăng Long những khám phá khảo cổ học. Nxb.
Hà Nội, Hà Nội.
TỐNG TRUNG
TÍN (Chủ biên)
2019. Tổng tập khảo cổ học Thăng Long - Hà Nội. Nxb. Hà Nội, Hà Nội.
TRẦN ANH DŨNG 2016. Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ khoa học cấp bộ
năm 2015-2016 “Nghiên cứu hệ
thống di tích chùa - tháp thời Lý - Trần ở
các tỉnh miền núi phía Bắc. Tư liệu Thư viện Viện Khảo cổ học, ký hiệu HS758.
TRẦN QUỐC VƯỢNG (dịch và chú
giải) 2005. Việt Sử lược. Nxb. Thuận Hóa, Huế.
TRẦN VĂN
GIÁP 1968. Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII. Tu thư
viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.
TRƯỜNG PHONG, NGUYỄN DUNG 2011.
Một số vấn đề lịch sử - văn hóa qua văn bia Thiệu Long.
Di sản văn hóa vật thể, số 2 (35).
VIỆN VĂN HỌC 1977. Thơ
văn Lý Trần, Tập 1. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
LÝ - PERIOD ARCHITECTURE: DATA AND RESEARCH
PHẠM VĂN TRIỆU, TỐNG TRUNG TÍN,
NGUYỄN VĂN MẠNH AND PHẠM LÊ HUY
The Lý Dynasty laid a lot of foundations for
the perfection of the institutions, creating a premise for the development of a
feudal state in the following periods in all the fields. The outstanding
achievement of which is the architectural constructions. Based on 3 main
sources of data, including ancient bibliography, epitaph and especially
archaeology, the paper refers to some some comments on Lý-period architecture:
- The Lý-period architecture are diversified
in types, in which there are two main types: the architectures of palaces and
pagodas/towers.
- The construction technology is an
outstanding achievement in Lý-period architectural construction. The most
special technique is the pairing one, combining many different materials on a
construction to increase its durability and fine arts.
- The Lý-period construction materials are very diverse, with many types in
combination: stones, bricks, gravels, clay, terracotta, saggers, and wood and
are popular in all architectural constructions. In addition to the materials
serving as an royal function, there are also local and natural materials.